Ngày: 15 - 12 - 2017  TRANG CHỦ       GE       CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG      CÂU LẠC BỘ      BẠN ĐỌC VIẾT     PHIẾM ĐÀM     GÓC NHÌN     THƯ NGỎ     ĐIỂM BÁO   LIÊN HỆ
DANH MỤC
ỨNG DỤNG GE
GE
GIAO LƯU BẠN ĐỌC
LẮNG NGHE
THỜI GIAN
TÔN GIÁO
TRIẾT HỌC
TÂM LÝ
Y HỌC
TÌNH YÊU
KỸ NĂNG SỐNG
GIÁO DỤC
GIỚI THIỆU SÁCH
MỸ THUẬT, NGHỆ THUẬT
THƠ
TRUYỆN NGẮN
DẠY ANH VĂN
CÁC LỚP HƯỚNG DẪN ĐÀO TẠO
HỘI HỌA
 
 
GIỚI THIỆU  
 

 

                             

                                        

                                                                              

                                                          Trang mạng ge-tvl.com viết đầy đủ là 

                                                 GREAT EVOLUTION FOR TRUE VALUE OF LIFE

                               (Tiến hóa vượt trội vì cuộc sống đích thực )

   GE giúp cho sự tồn tại và phát triển của con người bền vững, cơ bản dựa trên những quy luật tự nhiên, khách quan, trong vũ trụ ( Existence and Stable Progress basing on Natural Rules).

  
                                                                     


           Trong cuộc sống bề bộn những vấn đề liên quan đến sự sinh tồn của chúng ta. Mâu thuẫn luôn xẩy ra bên trong mỗi con người, giữa người này và người khác, giữa con người với thiên nhiên, con người và xã hội. Mâu thuẫn là bản chất của sự sống. Chính nó là động lực tiến hoá của chúng ta, nhưng chính nó cũng là nỗi đau khổ khôn nguôi của loài người, khi cứ phải đối mặt với những mâu thuẫn mà mình không muốn gặp.          

    Cuộc sống luôn luôn đòi hỏi chúng ta phải lựa chọn thái độ ứng xử đối với tất cả mọi người, mọi vật, mọi sự việc mà ta tiếp xúc hằng ngày. Mỗi người, tuỳ theo trình độ nhận thức, trình độ giáo dục,  tính khí, phong cách… mà xử lý tình huống khác nhau. Những xung đột được giải quyết không phải bao giờ cũng làm hài lòng hai đối thủ; vì, giống như di chuyển trên đường, kẻ ngược người xuôi, nhưng ai cũng thấy mình đi đúng luật.

       
Khái quát lên bình diện vĩ mô; mỗi quốc gia, dân tộc có cách tư duy, nhận thức, xử thế khác nhau trong các mối quan hệ và giải quyết mâu thuẫn; vì vậy, họ thường không nhất quán. Các cuộc chiến tranh nóng lạnh, tiềm ẩn hay bộc phát xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau là điều không tránh khỏi và không bao giờ chấm dứt vì chúng ta đã không có biện pháp giải quyết tận căn để vấn đề.

        GE
là trang mạng mang nội dung trình bày các khám phá về QUY LUẬT SỐNG tự nhiên trong vũ trụ, làm nền tảng cơ bản và là tiêu chuẩn cho sự ứng dụng vào việc xử trí trong mọi lãnh vực cuộc sống. Đây sẽ là việc xử trí tốt đẹp nhất vì nó mô phỏng cách xử trí của vũ trụ, hành xử như cách hành xử của Quy Luật Sống.  

        GE hướng đến giá trị thực tiễn của các lý thuyết nhằm đem đến lợi ích thực tế, niềm vui, sức khoẻ và sự bình an  cho con người.

  

 

 

HÃY LAO ĐỘNG TRÍ ÓC MỖI NGÀY ĐỂ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC, THĂNG TIẾN

TÂM LINH 

 

HÃY LAO ĐỘNG TAY CHÂN MỖI NGÀY ĐỂ THỂ XÁC KHOẺ MẠNH, VÌ THỂ XÁC

LÀ NƠI TRÚ NGỤ CỦA TÂM LINH

GE : Con đường sống và phát triển hoàn hảo


GE:  Quyển sách của Sống và Chết

GE : Khởi đầu cho kỷ nguyên mới : Kỷ Nguyên Sống theo

Quy Luật Tự Nhiên. 

 

 MỜI CÁC BẠN VÀO TRANG  MỤC

THÔNG TIN BÀI CẬP NHẬT ĐỂ XEM CÁC BÀI MỚI NHẤT

 

KÍNH BÁO : TRANG CHỦ BẬN VIỆC TỪ

 

NGÀY 23.11.2015

 

XIN CÁM ƠN SỰ THEO DÕI CỦA QUÝ

 

ĐỘC GIẢ

                                            ge-tvl.com

 

 

 

 

 

 

      

 

 

                          

 

TRIẾT HỌC ĐÔNG PHƯƠNG  
 

 

 

 

Trước khi  đọc trang mục này, chúng tôi mời Quý Vị vào trang " Triết Học Nhập Môn & Tây Phương" , để sự theo dõi của Quý Vị có trình tự. Điều này giúp cho sự tìm hiểu Triết Học của Quý Vị thêm hiệu quả  
 
( Sau đây là nguồn tài liệu của  Bách Khoa Toàn Thư Mở wikipedia  )
 
 
                       TRIẾT HỌC ĐÔNG PHƯƠNG
 
Triết học phương Đông kế thừa các truyền thống lớn bắt nguồn từ hoặc đã phổ biến tại Ấn ĐộTrung Quốc cổ. Các nhà triết học phương Đông chính yếu gồm Kapila, Yajnavalkya, Thích Ca Mâu Ni, Akshapada Gotama, Nagarjuna, Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Chu Hy, Hàn Phi Tử, Vương Dương Minh, Dharmakirti, Sankara, Ramanuja, Madhvacharya, Sri Ramakrishna, Narayana Guru, Vivekananda, Aurobindo, Ananda CoomaraswamySarvepalli Radhakrishnan.
Triết học Ấn Độ có lẽ có thể so sánh được với triết học phương Tây hơn cả. Ví dụ, trường phái Nyaya của triết học Hindu đã khám phá logic như một số nhà triết học phân tích hiện đại; tương tự, trường phái Carvaka mang đặc điểm vô thầnkinh nghiệm chủ nghĩa. Tuy nhiên, có những sự khác biệt quan trọng, chẳng hạn triết học Ấn Độ cổ nhấn mạnh vào các học thuyết của trường phái hay các kinh sách cổ, thay vì nhấn mạnh vào cá nhân các triết gia, đa số họ khuyết danh hoặc tên tuổi không được lưu truyền lại.
 
 
Triết học Ấn Độ
 
 
          Trong lịch sử của tiểu lục địa Ấn Độ, theo sau sự thiết lập của nền văn hóa Aryan/Vedic, sự phát triển của các tư tưởng triết học và tôn giáo đã phát triển trong một giai đoạn trên 2 thiên niên kỉ đã đưa đến sự phát triển của 6 trường phái của triết học Hindu aastika (chính thống). Những trường phái này được xem là đồng nghĩa với Ấn Độ giáo, là một phát triển của Tôn giáo Veda lịch sử.
             Triết học Hindu đã làm nên một phần của văn hóa của Nam Á, ảnh hưởng đến tận miền Đông Nam Á.
 
 

Triết học Trung Quốc
  

 
  Triết học có ảnh hưởng rất sâu rộng đến nền văn minh Trung Hoa, và cả Đông Á. Nhiều trường phái triết học đã được hình thành trong thời kỳ Xuân ThuChiến Quốc, và được biết với tên gọi Bách gia chư tử. Bốn trào lưu có ảnh hưởng nhất là Nho gia, Đạo gia, Mặc giaPháp gia. Sau này, vào thời nhà Đường, Phật giáo từ Ấn độ cũng trở thành một trào lưu tôn giáo và triết học. (Cũng nên lưu ý là trong tư tưởng phương Đông, không giống với Tây phương, giữa triết học và tôn giáo không có ranh giới rõ ràng.) Giống với triết học Tây phương, triết học Trung Hoa có nhiều tư tưởng phức tạp và đa dạng với nhiều trường phái và đều đề cập đến mọi lĩnh vựcchuyên ngành của triết học.
 
 
(Bài của Ge-tvl.com )
 
 

Triết Học và Tôn Giáo từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim khi đề cập đến Bản Thể Luận ( Vũ Trụ Luận ) đều chia làm ba quan điểm : Quan Điểm Hữu Thần, quan điểm Vô  Thần và quan điểm Phiếm Thần.

Quan điểm Hữu Thần chủ trương : Vũ Trụ  được một đấng Thượng Đế Tự Hữu  Toàn Thiện, Toàn Năng  sáng lập, điều hành và quản lý theo Ý của Ngài. Vì thế, ngoài thế giới hữu hình, còn có cả những thế giới thần linh, thế giới vô hình bên ngoài, bên trên và bên dưới của cõi Người.

Quan điểm Vô Thần cho rằng : Không có một đấng Thượng Đế nào tạo lập vũ trụ. Vũ trụ hình thành vì những quy luật tự nhiên, chính những quy luật này cũng là “tác nhân” điều hành và quản lý vũ trụ. Chủ trương bởi những người đặt niềm tin tuyệt đối vào nền Khoa Học Thực Nghiệm, chỉ tin vào những giác quan hữu hình để nhìn nhận thế giới. Quan điểm vô thần không chấp nhận những thế giới vô hình, siêu hình, vốn dĩ không thể nhìn, sờ, thấy, nghe… một cách thông thường .

Quan điểm Phiếm Thần (Ge-tvl sử dụng từ này một cách miễn cưỡng vì phải so sánh với hữu thần và vô thần) có thể hiểu một cách đơn giản là không chấp nhận một Thượng Đế sáng tạo ra vũ trụ nhưng cũng không giống với vô thần. Quan điểm này chủ trương Vũ trụ hình thành và hoạt động vì tính chất của “Cái” cấu thành ra nó. Chính điều này tạo ra những quy luật, định luật tự nhiên điều hành và quản lý vũ trụ. Có các thế giới vô hình khác mà con người không thể nhận thức được bằng các giác quan bình thường.

Trên thế giới, cho đến nay có 3 nền Triết Học Đông Phương tiêu biểu cho quan điểm này, đó là triết học của Nho Giáo Phật Giáo và Lão Giáo. Gặp nhau trên quan điểm này, nên người ta hay gọi chung cho cả ba nhà là “Tam Giáo”. Triết học Đông phương cũng có một hệ thống triết lý mang quan điểm hữu thần, đó là đạo Hindu, Ấn Giáo hay Bà La Môn giáo. Nhưng Ở đây, theo vị trí địa lý, chúng ta chỉ đề cập đến các học thuyết ảnh hưởng mạnh nhất đến dân tộc Việt Nam, trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc,  đó là hệ thống tư tưởng của Phật Giáo, Nho Giáo và Lão Giáo.

Do quan điểm về vũ trụ không mâu thuẫn với nhau nên các tín đồ của ba tôn giáo trên có thể dung nạp giáo lý lẫn nhau không ngăn ngại.Vì thế người ta thường gọi  NHO-PHẬT-LÃO là Đông Phương Tam Giáo. Dẫu vậy, con đường của mỗi một Đạo có những đích đến khác nhau, đó là những chặng đường đánh dấu từng bước tiến hoá, trên con đường tiến hoá tâm linh. GE muốn được  trình bày lại một cách đơn giản xúc tích nhưng đầy đủ tôn chỉ mục đích và nội dung của tam giáo, để :

1.    Làm rõ những điều gây nên sự hiểu lầm đối với ba giáo lý

2.    Nêu lên mối tương quan giữa ba giáo lý

3.    Sự gắn bó và bổ sung lẫn nhau của ba giáo lý này.

Trước tiên chúng ta nói về Đạo Nho

 

Nho giáo (儒教), còn được gọi là Khổng giáo (孔教),

 

  

( Biên tập từ tài liệu wikipedia Tiếng Việt ) 

 

KHỔNG TỬ
 
 

                     Khổng Tử (chữ Hán: 孔子; còn gọi là Khổng Phu Tử 孔夫子)

  • Tên hiu ca ông là 仲尼, Trng Ni.

  • Năm th1 sau Công Nguyên (năm đầu thi Nguyên ThuNhà Hán), ông được trao thy hiuđầu tiên: 褒成宣尼公, Bao Thành Tuyên Ni Công, có nghĩa "Ngài Ni (Khng T) Công Đức Đáng Ca Ngi."

  • Các thy hiu ni tiếng nht ca ông là

    • 至聖先師, Chí Thánh Tiên Sư, nghĩa "Bc Thy Đời Trước Đã Đạt Ti Bc Thánh" (t năm Gia Tĩnh th 9, Nhà Minh (năm 1530));

    • 至聖, Chí Thánh, "Bc Thánh";

    • 先師, Tiên Sư, "Bc Thy Đầu Tiên".

  • Ti Đài Loan, ông cũng thường được gi là 萬世師表, Vn Thế Sư Biu, "BcThy Ca Muôn Đời".

 

          Là một nhà tư tưởng, nhà triết học xã hội nổi tiếng người Trung Hoa, các bài giảng và triết lý của ông có ảnh hưởng rộng lớn đối với đời sống và tư tưởng của các nền văn hóa Đông Á.

          Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni 仲尼, sinh ngày 27 tháng 8 năm 551 trước Công nguyên, vào thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc, tại ấp Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc). Nhiều sử sách ghi rằng ông sinh trong một gia cảnh nghèo, nhưng thực tế gia đình ông có ông tổ ba đời vốn thuộc dòng quý tộc sa sút từ nước Tống dời đến nước Lỗ. Cha của Khổng Khâu, Thúc Lương Ngột (cháu 13 đời của Vi Tử Diễn, anh của vua Trụnhà Thương) là quan võ thuộc ấp Trâu, đến 70 tuổi mới lấy Nhan thị mà sinh ra ông. Năm lên ba, Khâu mồ côi cha, lớn lên, phải làm lụng vất vả để nuôi mẹ, nhưng rất ham học. Năm 19 tuổi, ông lấy vợ và làm một chức quan nhỏ coi kho chuyên quản lý kho tàng, xuất nạp tiền lương công bằng chuẩn xác. Ông cũng từng đảm nhiệm chức quan nhỏ chuyên quản lý nông trường chăn nuôi, súc vật sinh trưởng rất tốt. Nhờ vậy ông được thăng chức lên làm quan Tư không, chuyên quản lý việc xây dựng công trình. Năm 22 tuổi, ông mở lớp dạy học. Học trò gọi ông là Khổng Phu Tử 孔夫子, hay gọi gọn hơn là Khổng Tử 孔子. 'Tử' ngoài ý nghĩa là 'con' ra còn có nghĩa là "Thầy". Do vậy Khổng Tử 孔子 là Thầy Khổng.

          Trong suốt gần 20 năm, từ năm 34 tuổi, Khổng Tử dẫn học trò đi khắp các nước trong vùng để truyền bá các tư tưởng và tìm người dùng các tư tưởng đó. Có nơi ông được trọng dụng nhưng cũng có nơi ông bị coi thường. Năm 51 tuổi, ông quay lại nước Lỗ và được giao coi thành Trung Đô, năm sau được thăng chức Đại tư khấu (coi việc hình pháp), kiêm quyền tể tướng. Sau ba tháng, nước Lỗ trở nên thịnh trị. Nhưng rồi bị ly gián, gièm pha, ông bèn từ chức và lại ra đi một lần nữa.

             Năm 68 tuổi, Khổng Tử trở về nước Lỗ, tiếp tục dạy học và bắt tay vào soạn sách. Có thể nói Khổng Tử là người thầy tư nhân chuyên thu nhận học trò đầu tiên trong lịch sử giáo dục Trung Quốc. Trước thời ông, trường học hoàn toàn là của nhà nước. Khổng Tử sáng lập ra trường học tư, thu nhận nhiều đồ đệ, đưa giáo dục mở rộng cho bình dân, đem tri thức văn hóa truyền bá cho dân gian, có cống hiến thật to lớn đối với giáo dục thời cổ đại. Ông mất tháng 4 năm 479 TCN, thọ 73 tuổi.

           Các bài giảng của Khổng Tử được nghiên cứu chủ yếu qua cuốn Luận Ngữ, một tập hợp những "mẩu chuyện cách ngôn ngắn", được biên soạn nhiều năm sau khi ông qua đời do các học trò của ông ghi chép lại. Trong gần 2.000 năm ông được cho là người biên soạn hoặc tác giả của Ngũ Kinh: Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu (Kinh Nhạc đã bị Tần Thủy Hoàng đốt mất nên còn lại Ngũ Kinh). ( Khi nói đến nội dung của Khổng Giáo người ta luôn nhắc đến TỨ THƯ, NGŨ KINH. Tứ Thư là bốn quyển sách :  Đại Học, Luận Ngữ, Trung Dung, Mạnh Tử ) (chú thích của Ge-tvl.com)

( Bài của Ge-tvl.com )
 
 
NHẬN ĐỊNH VỀ KHỔNG GIÁO
 
 

          Khổng Giáo (hay Nho Giáo ) là một hệ thống tư tưởng  thiết lập những quy phạm đạo đức, tổ chức đời sống cá nhân, đạo đức và tổ chức xã hội, nguyên tắc ứng xử giữa cá nhân với các mối quan hệ trong gia đình, ngoài xã hội. Hệ thống tư tưởng này dần dần được chấp nhận và phổ biến ở nhiều nước Đông Á, từ lâu đã ăn sâu vào tâm thức của nhiều dân tộc và  trở thành quan điểm, lối sống, cách tư duy và văn hoá của họ. Trong đó, Việt nam là một quốc gia chịu ảnh hưởng sâu đậm của luồng tư tưởng này trong suốt một thời gian dài của lịch sử dân tộc .

           Học thuyết của Khổng Tử lấy chữ NHÂN  (Tình Thương) làm gốc. Tư tưởng này xuyên suốt trong cách hành xử của con người trong tổ chức xã hội và định chế xã hội ( theo Nho Giáo ) cũng phải lấy tư tưởng này làm cơ bản.

 

                                                      Đối với CÁ NHÂN   

 

                 Đạo đức nền tảng  của mỗi cá nhân được căn cứ trên các đức tính :

NHÂN : Lòng thương người, tình tương thân tương ái với nhau trong xã hội .

NGHĨA : Trợ giúp mọi người những việc đúng việc phải, cứu giúp người hoạn nạn,                  hỗ trợ kẻ khó khăn, nâng đỡ người yếu đuối.

LỄ :  Quan hệ xã hội tuân theo Trật Tự hợp lý và cần thiết như cấp bậc lớn nhỏ, thứ            tự trên dưới, trước sau.

TRÍ : Tư duy đúng đắn, hiểu biết rõ ràng về hình tướng, bản thể và ứng dụng của mọi         sự, mọi vật.

TÍN : Trung thực, thành tín ở mọi nơi mọi lúc để mọi người có thể tin tưởng được.

                          Năm đức tính trên được gọi là NGŨ THƯỜNG 

 Ngoài năm đức tính này, con người cần phải có thêm các  tánh hạnh quan trọng khác là : Trung, Dũng, Cần, Kiệm, Liêm, Sỉ.

TRUNG : không phải bội lại những gì mình đã và đang phục vụ
DŨNG : Can đảm mạnh mẽ để vượt qua mọi khó khăn trở ngại hoặc cám dỗ cũng như sự sợ hãi của bản thân để thực hiện được những đức tính cao đẹp của con người.
CẦN : Siêng năng chăm chỉ làm những điều tốt đẹp và hữu ích cho bản thân mình và người khác.
KIỆM : Tiết kiệm, chi tiêu vừa phải đúng mức cần thiết, không hoang phí, không keo kiệt, bủn xỉn.
LIÊM : Ngay thẳng, trong sạch, chính trực, không quanh co khuất tất, mưu mô gian xảo, nhằm có được lợi ích bất chính cho bản thân mình.
SỈ : Biết xấu hổ với người khác và xấu hổ với chính bản thân mình khi làm những việc xấu xa, độc ác, vô lương tâm, vô đạo đức.
 
Trong những đức tính quan trọng của con người  DŨNG CẦN  là hai đức tính nòng cốt, làm trụ cột để cho những đức tính kia tồn tại. Thiếu “Dũng”, người ta có thể sợ hãi hay nhụt chí hoặc bị cám dỗ bởi hoàn cảnh. Thiếu “Cần” người ta không đủ siêng năng để làm những việc cần làm.

        Để giữ được khí tiết, trung chính của mình, có khi con người phải có đủ can đảm để chấp nhận sống trong cảnh nghèo đói, đe doạ, bất an

 

                     Quân tử thực vô cầu bảo, cư vô cầu an  
                     (Người quân tử ăn không cần no, ở không cần yên)
 
Do lòng can đảm này, người Quân Tử có thể chấp nhận cái chết để bảo toàn danh dự  

                     Quân tử ninh khả tử bất ninh khả nhục 
(Người quân tử có thể chấp nhận cái chết nhưng không chấp nhận cái nhục )
 
Đối với những người không biết đạo nghĩa liêm sỉ thiếu dũng lược, rất có thể bị hoàn cảnh khuất phục hay cám dỗ, nhưng với người Quân Tử điều này không thể xẩy ra :
 

Quân tử : Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất 
(Người quân tử giầu sang không sinh chuyện dâm dật, nghèo khó không thay đổi đức hạnh, cường quyền bức hại không sợ sệt)
 
Để giữ tròn Trung, Hiếu, Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ, người Quân Tử phải sống theo phương ngôn :
 
Nhân phi nghĩa bất giao, vật phi nghĩa bất thủ, ngôn phi nghĩa bất xuất
(Người bất nghĩa không giao tiếp, vật bất nghĩa không giữ, lời bất nghĩa không nói ) 
Tinh thần Nghĩa Hiệp xuất phát từ lòng NHÂN của người Quân Tử , khiến kẻ Sĩ luôn ra tay tương trợ những người khó khăn, cô thế, yếu đuối ở mọi nơi mọi lúc, để đòi lại công bằng cho họ, cho dù đó là những việc không liên quan đến mình
 
Anh hùng tiếng đã gọi rằng 
Giữa đường  dẫu thấy bất bằng mà tha ! 
                                                                             ( Nguyễn Đình Chiểu )      
 
Nho giáo chia con người trong xã hội ra làm hai loại : Thất Phu (loại người không học hành, kém hiểu biết ) và Sĩ Phu (loại người có học hành, hiểu biết) . Sĩ Phu còn được gọi là Kẻ Sĩ.
Để  trở thành kẻ Sĩ, người ta phải thông thạo Tứ Thư Ngũ Kinh và phải có tất cả những đức hạnh chuẩn mực  để sống làm người. Trong tất cả những đức hạnh đó, chữ HIẾU là đức hạnh đầu tiên và quan trọng nhất mà kẻ Sĩ phải có :
 
Sĩ kiêm bách hạnh, HIẾU HẠNH vi tiên
(Kẻ Sĩ có đủ trăm hạnh, hạnh Hiếu đứng đầu )
 
 

Kẻ Sĩ giữ được các đức hạnh xứng đáng làm người được gọi là “Quân Tử , ngược lại tiêu chuẩn này . gọi là kẻ “Tiểu Nhân
   

 

Đức hạnh theo giới tính
   
         Nho giáo quan niệm : Nam Trung, Nữ Trinh (Đàn ông phải Trung thành, Đàn bà phải tiết hạnh )
 
Trai thời Trung Hiếu làm đầu
Gái thời Tiết Hạnh làm câu giữ mình
                                                         (Nguyễn Đình Chiểu)
 
Phận sự của hai phái cũng được phân công rõ ràng : Nam ngoại, Nữ nội ( đàn ông gánh vác công việc ngoài xã hội, đàn bà gánh vác công việc trong nhà )
Đối với phụ nữ, để hoàn tất vai trò Nội Tướng của mình, người phụ nữ phải có  Công, Dung, Ngôn, Hạnh.
CÔNG : Kỹ năng trong các lãnh vực nội trợ và quản lý nhà cửa như : Nấu nướng, thêu thùa, may vá, tổ chức sắp xếp nhà cửa gọn gàng sạch đẹp. tổ chức quản lý đời sống, chi tiêu trong gia đình, trông nom chăm sóc nhà cửa con cái và các thành viên trong gia đình …
DUNG : Có kiến thức chăm sóc ngoại hình. Ăn mặc, trang điểm phù hợp tuỳ nơi, tuỳ chỗ, tuỳ lúc.
NGÔN :  Người phụ nữ phải nói năng dịu dàng, lịch sự, hoà nhã, cẩn trọng và thiện cảm với mọi người.
HẠNH :  Đức  hạnh của người phụ nữ quan trọng nhất là Trinh Tiết (Trinh là trong trắng, Tiết là ngay thẳng )Sự trong trắng và ngay thẳng phải bắt nguồn từ trong tâm hồn và thể hiện ra ngoài thể xác và hành động.
 
Ngoài CÔNG, DUNG, NGÔN, HẠNH (gọi là Tứ Đức) Cuộc đời của một người Phụ Nữ được ấn định bởi những phép tắc thường quy (gọi là Tam Tòng)
 
Tại gia tòng Phụ   (Ở trong gia đình phải theo cha mẹ)
Xuất giá tòng Phu (khi lấy chồng phải theo chồng )
Phu tử tòng Tử  (Khi chồng chết phải theo con )
 
HÀNH XỬ TRONG CÁC MỐI QUAN HỆ 
 

Khổng Tử cho rằng có ba mối quan hệ quan trọng nhất, chính yếu nhất ràng buộc mọi người trong gia đình và ngoài xã hội với nhau. Những mối quan hệ chính yếu này được gọi là GIỀNG MỐI :
 

 
Quân Thần Cang – Phụ Tử Cang – Phu Thê Cang
( Quan hệ Vua-Tôi , Cha-Con, Chồng-Vợ )
 
Ba mối quan hệ này gọi là TAM CANG, ngoài ra còn có những mối quan hệ khác như
Anh Chị Em, Bè Bạn .
Theo tiêu chuẩn của Nho gia, mọi người phải cư xử với nhau trong các mối quan hệ như sau :
 
Quân Minh  -  Thần Trung   ( Vua Sáng  -  Tôi Trung )
Phụ Từ  -  Tử Hiếu                 ( Cha Hiền  -  Con Hiếu  )
Phu Xướng  -  Phụ Tuỳ          ( Chồng Nói  - Vợ Nghe  )
Huynh Thuận  -  Đệ Cung      ( Anh Nhường  -  Em Kính )
Bằng Hữu  Hảo                        ( Bạn bè Tốt )
 
(Năm mối quan hệ này được gọi là NGŨ LUÂN. Năm đức tính của người Quân Tử được gọi là NGŨ THƯỜNG.  Khi nói đến Luân Thường Đạo Lý là ta đang nói đến Ngũ luân, Ngũ Thường trong đạo Nho )
 
Mỗi người phải làm tròn bổn phận trách nhiệm với vai trò và vị trí của mình thì mới xứng đáng nhận được sự hoàn thành bổn phận trách nhiệm từ phía đối tác :
Ví dụ : Quân quân  - Thần  thần  ( Vua làm vua cho ra Vua, Tôi làm tôi cho ra Tôi )……
Mỗi người ở vai trò vị trí của mình phải hành xử đúng với vị trí vai trò ấy . Nho gia nói  : Tố vị trí nào hành hồ đúng vị trí đó,. Nguyễn Công Trứ từng viết những câu thơ như :
Cuộc trăm năm chữ “tố hành hồ”
Bề khu xử quy mô hoàn tự biệt
Sự cư xử đúng với vai trò vị trí của mình được gọi là LỄ.
 
Nếu một người cư xử không đúng LỄ , đối tác của họ không cần phải giữ LỄ. Ví dụ : Quân bất minh (hôn quân) thì Thần bất trung .v.v…
 
Nói đến Đạo Nho, ta không thể không nhắc đến Nguyên Tắc Vàng trong phép tắc ứng xử trong cuộc sống : 
 

 Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân  
(Điều mình không muốn, đừng làm cho người khác)
 

Kỷ dục lập, nhi lập nhân 
(Điều mình muốn hãy làm cho người khác )
 
Mỗi cá nhân cần tu chỉnh chính mình để có thể sống lợi ích cho bản thân và người khác theo phác đồ hoạch định sau đây :
 
TU THÂN, TỀ GIA, TRỊ QUỐC, BÌNH THIÊN HẠ
 
( Tu sửa bản thân mình thành người chính nhân quân tử. Sau đó ổn định cuộc sống gia đình khiến gia đình vui vẻ hạnh phúc. Thành công trong gia đình xong rồi mới có thể trị nước. Trị nước vững vàng thì mới làm cho thiên hạ được thái bình ) 
 
                                             Đối với CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI
 
 
Sống dưới thời kỳ hỗn loạn của lịch sử Trung Hoa là thời Xuân Thu Chiến Quốc . Nước này bị phân chia thành nhiều tiểu quốc luôn tranh dành thế lực, đem binh sát phạt lẫn nhau, cuộc sống người dân vô cùng đau khổ. Khổng Tử, cũng như những kẻ thức giả đương thời, mong muốn cho nước Trung Hoa có một vị Minh Quân tài giỏi thống nhất đất nước. Vị minh quân này phải dùng đạo đức nhân nghĩa để dạy dân và trị dân là chủ yếu. Chủ trương này gọi là NHÂN TRỊ, chứ không phải dùng hình pháp để  trừng phạt dân (gọi là PHÁP TRỊ).
 
 

Trong Luận Ngữ có đoạn như sau : "Dùng mệnh lệnh, pháp luật để dẫn dắt chỉ đạo dân, dùng hình phạt để quản lý dân, làm như vây tuy có giảm được phạm pháp, nhưng người phạm pháp không biết xấu hổ, sỉ nhục. Dùng đạo đức để hướng dẫn chỉ đạo dân, dùng lễ nghĩa để giáo hóa dân, làm như vậy chẳng những dân hiểu được thế nào là nhục nhã khi phạm tội, mà còn cam tâm tình nguyện sửa chữa sai lầm của mình tận gốc từ mặt tư tưởng."
 
 

Khổng Tử cho rằng giáo dục ý thức về sự nhục nhã xấu xa của người dân khi phạm tội để răn dậy dân chúng là điều cơ bản và hiệu quả hơn là sử dụng hình phạt để làm họ khiếp sợ như chủ trương của phái PHÁP GIA
 
Một xã hội mà Khổng Tử mong muốn hướng tới là một xã hội Quân Chủ, trong đó Vua là một vị  lãnh đạo tài đức song toàn, có thể dùng tài năng trí tuệ của mình mà an bang tế thế, lại có thể dùng uy đức của mình khiến thần dân tâm phục và có thể giáo hoá dân để họ trở thành những người lương thiện, có lòng nhân ái hòng xây dựng một xã hội thái bình thịnh trị, an hoà.
Đối với mỗi cá nhân thì cần tu sửa đạo đức bản thân mình theo Luân Thường Đạo Lý. Phụ nữ thì chủ yếu lấy Tam Tòng, Tứ Đức làm trọng. Những nguyên tắc ứng xử này đều dựa trên chữ LỄ, tức tôn ti trật tự trong cuộc sống và xã hội.
Chủ trương lớn nhất của Khổng Tử là lấy NHÂN NGHĨA mà xử thế với nhau, để ta và mọi người cùng sống an hoà hạnh phúc. Câu châm ngôn nổi tiếng : “ Điều gì ta không muốn đừng làm cho người khác” và “ Điều gì ta muốn hãy làm cho người khác” đã trở thành một câu slogan độc đáo và đặc thù của đạo Khổng vậy .
 
NHẬN XÉT VỀ VÀI VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG TRON ĐẠO NHO
 
Dù Đạo Nho đã tạo được ảnh hưởng sâu rộng trong nhiều nước ở khu vực Đông Á và vẫn tồn tại ở một vị trí được trọng vọng sau bao nhiêu thăng trầm biến thiên trong  lịch sử. Nhưng, những “tai tiếng” mà Đạo Nho gánh chịu thì hình như chưa thấy ai lên tiếng “thanh minh” để rửa sạch “nỗi oan” cho Đức Khổng Tử. Điều này, thiết tưởng chúng ta cần làm rõ để hiểu đúng lại những điều Đức Khổng muốn truyền lại đời sau.
 
Vấn Đề thứ nhất
 
 ĐẠO NHO CÓ PHẢI LÀ CÔNG CỤ CỦA CHẾ ĐỘ QUÂN CHỦ CHUYÊN CHẾ  ?
 
Câu hỏi đặt ra vì có những câu (được cho là của Đạo Nho) mang tính cổ vũ và phục vụ cho chế độ quân chủ chuyên chế như :
 
 
Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung                           
 
                        Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu
 
                         (Vua xử thần chết, thần không chết là thần bất trung
                          Cha xử con chết, con không chết là con bất hiếu)
 
Chúng ta nên hiểu điều này như thế nào ?
Ở đây, chúng ta giả định có hai tình huống xảy ra.
Tình huống thứ nhất : Các chế độ Quân Chủ Phong Kiến lợi dụng uy tín của đạo Nho để thêm vào những câu  phục vụ cho chế độ của mình. Đối với những ông vua bạo ngược tàn ác (hôn quân) thì những quyết định của ông ta thường là sai lầm, ngu muội. Nếu cứ tận trung với Vua, dù chết không màng, thì đây là một loại Ngu Trung. Đối với những người làm cha mẹ mà không xứng đáng với bổn phận trách nhiệm của mình, lợi dụng vai trò của mình để hiếp đáp, hành hạ con cái, nếu cứ tận hiếu mà chết vì những ý muốn sai lầm hoặc độc ác của cha mẹ thì đó là Ngu Hiếu . Cả hai trường hợp Ngu Trung và Ngu Hiếu đều đáng thương và đáng trách chứ không phải là đáng tán dương
 
Khổng Tử  từng nói : Quân-quân , Thần-thần , Phụ-phụ, Tử-tử  (Nghĩa là Vua ra vua. Tôi ra tôi. Cha ra cha. Con ra con…) người nào xứng đáng ở vị trí của người ấy thì mới có thể nhận được sự đối xử tương xứng của đối phương. Hôn quân thì không được đòi hỏi có trung thần. Điều này chứng tỏ Khổng Tử không chấp nhận Ngu Trung, Ngu Hiếu.
 
Tình huống thứ hai : Đây chính là câu nói của Khổng Tử, thì chúng ta nên hiểu. Vua trong quan niệm của Khổng Tử là Minh Quân, người có trách nhiệm lập pháp và hành pháp. Vua xử là luật xử. Người không tuân theo luật pháp là chống lại luật pháp, nên Vua xử Thần chết thì thần phải chết. Quốc có Quốc pháp, Gia có Gia quy. Cha Hiền xử con theo Gia quy thì con phải chấp hành, dù có chết cũng phải tuân lệnh.
Chúng ta không thể trách vì sao Khổng Tử lại chấp nhận chế độ Quân Chủ Chuyên Chế, vì mỗi cá thể đều là sản phẩm của xã hội và thời đại. Xã hội sẽ không chấp nhận những gì tụt hậu hay vượt qúatrình độ tiến hoá của con người đương đại. Khổng Tử sống ở thời Quân Chủ chuyên chế nên dù muốn dù không, Khổng Tử cũng không thể đề xuất một chế độ nào khác. Giả sử nếu có, cũng không ai chấp nhận. Vì vậy, điều lý tưởng nhất của chế độ này chỉ là hy vọng vào một đấng minh quân. Do đó, chúng ta có thể hoàn toàn thông cảm và hiểu được những ý tưởng của Ngài.
 
 
Vấn Đề thứ hai
 
 
 ĐẠO NHO CÓ CHỦ TRƯƠNG BẤT ĐÌNH ĐẲNG GIỚI ? 
 
 
 
Trung Hoa là cái nôi sản sinh ra Nho Giáo, cũng là xã hội thấm nhuần tư tưởng đạo Nho trong quá nhiều thế kỷ đến nỗi người dân Trung Quốc không ai là không biết đến đạo Nho. Bên cạnh đó những hiện tượng tiêu cực xảy ra cho nữ giới như những tập tục hủ lậu của xã hội khiến người phụ nữ chịu trăm ngàn thiệt thòi cay đắng, vi phạm nhân quyền của nữ giới, mà người ta cho là xuất phát từ đạo Nho. Những sự xúc phạm nghiêm trọng xảy ra cho phụ nữ phải đề cập đến là :
 
ĐIỀU THỨ NHẤT : TRỌNG NAM KHINH NỮ
 
Chúng ta thường được nghe câu : “ Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (có một người con trai cũng là có, có mười người con gái cũng là không )
 
Câu nói này thật sự hết sức là bất công về mặt đạo đức xã hội, phản khoa học, phản triết học và đi ngược lại bước tiến hoá của loài người (phản động).
 
Về mặt Khoa Học : Sinh con trai hay con gái là do nhiều yếu tố thuộc sinh học của cha và mẹ, con người không nên và không được đi ngược lại quy luật khách quan của tự nhiên giới.
Về mặt Triết Học : Kinh Dịch một tác phẩm lớn và quan trọng nói về các nguyên tắc trong vũ trụ cũng quan niệm sự sống là sự giao thoa, hợp tác hài hoà giữa hai yếu tố Âm-Dương. Sự mất quân bình âm dương đến một ngưỡng nào đó sẽ làm sự sống bị huỷ hoại. Người Nữ là Âm, người Nam là Dương ( xét về mặt sinh lý cơ thể và tính chất của tinh thần) nếu con người quan niệm và xử sự “nhất bên trọng, nhất bên khinh” (một bên coi trọng, một bên xem nhẹ) sẽ xảy ra tình trạng mất quân bình Âm-Dương.
Về mặt Tiến Hoá : Nếu xã hội không sống cân bằng hài hoà, không hiếu đúng và đủ các Quy Luật Tự Nhiên, không ứng dụng những quy luật ấy trong cuộc sống thì không thể có sự tiến hoá
Về mặt Đạo Đức Xã Hội : Nam hay Nữ cũng đều ở đẳng cấp “NGƯỜI”. Sự phân biệt đối xử giữa hai phái bộc lộ bản chất ác độc của phái ở thế mạnh ( mạnh hơn về thể lực, mạnh hơn về tinh thần )
 
 
ĐIỀU THỨ HAI : VI PHẠM NHÂN QUYỀN
 
Sự vi phạm nhân quyền thể hiện qua những hủ tục, cụ thể như ở xã hội Trung Hoa trong thời kỳ Nho giáo đang thịnh hành, những tập tục dùng cho người phụ nữ phổ biến như :
 
1.     TỤC BÓ CHÂN : Khi người phụ nữ ở tuổi dậy thì, người ta bắt buộc cô phải bó chân để chân cô không thể phát triển một cách tự nhiên gây ra sự mất cân bằng đối với cơ thể, điều này khiến cô đau đớn về thể xác, chậm chạp khó khăn khi di chuyển.
 
2.     KHÔNG CHO HỌC HÀNH,THI CỬ,THAM CHÍNH, GIA NHẬP QUÂN ĐỘI : Người phụ nữ muốn biết chữ phải tự tìm học “ngoài luồng” . Nhà nước quân chủ chuyên chế Trung Hoa thời đó không cho phép phụ nữ được vào trường học. Một số trường hợp đặc biệt, các cô phải cải nam trang để được vào trường như nam giới. Câu chuyện tình bi thảm của Lương Sơn Bá-Chúc Anh Đài đã diễn ra trong bối cảnh lịch sử đó. Chúng ta cũng thấy một vài trường hợp hạn hữu của các phụ nữ cải nam trang đi thi và đậu đến Tiến Sĩ (bằng cấp cao nhất quốc gia) và các phụ nữ cải nam trang để tòng chinh đánh giặc, trong đó có trường hợp điển hình nổi tiếng là Hoa Mộc Lan. Khi bị phát hiện, các cô gái dũng cảm này có thể bị tử hình vì tội “Khi quân phạm thượng”.
 
3.     KHÔNG CHO TÁI GIÁ : Khi người chồng quá vãng, người phụ nữ phải ở vậy, thủ tiết thờ chồng nuôi con. Hành động này được xem như đạo đức chuẩn mực của người goá phụ. Người phụ nữ sẽ có danh dự cao và được xã hội trọng vọng nể vì nếu được nhà vua ban cho bốn chữ vàng  “Tiết Hạnh Khả Phong”.
  
 
 
                             NHẬN ĐỊNH VỀ
 
 NGUYÊN NHÂN CỦA CHỦ TRƯƠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI
 
 
Lòng  Ích Kỷ Hẹp Hòi của nam giới ở xã hội Trung Hoa thời đó
 
       Nếu nói rằng chủ trương bất bình đẳng giới  có nguyên nhân sâu xa là tính ích kỷ hẹp hòi, độc đoán  của nam giới ở xã hội Trung Hoa thời đó thì chắc cũng không có gì là quá đáng. Có thể người ta hiểu lầm về nội dung của Nho giáo qua các quan điểm về đức hạnh của người phụ nữ ( Tam Tòng Tứ Đức ) và quan điểm về vai trò của người phụ nữ trong xã hội. (Nội tướng : Người cai quản trong gia đình). Do hiểu sai về Nho giáo hay cố ý hiểu sai , người ta gán ghép quan niệm “ Trọng Nam Khinh Nữ” và các hủ tục vi phạm nhân quyền của nữ giới là chủ trương của đạo Nho.
    
Ge-tvl.com không cho rằng đây là chủ ý của Đức Khổng Tử, cho dù ai đó có trích dẫn bất kỳ điều gì từ bất kỳ quyển sách nào được cho là của Nho Giáo. Bởi vì sau khi một người qua đời, họ không thể đội mồ sống dậy để thanh minh bất kỳ điều gì mà hậu thế thêm thắt, cắt xén hoặc sửa đổi (nếu có) trong những tác phẩm của họ, hoặc do đệ tử của họ ghi chép lại. Khổng Tử chủ trương dùng NHÂN NGHĨA xử sự trong tất cả mọi mối quan hệ trong gia đình, ngoài xã hội, trong khi quan niệm “Trọng Nam Khinh Nữ” và tất cả các hủ tục vi phạm nhân quyền phụ nữ, đi ngược lại chủ trương Nhân Nghĩa của Ngài. Nên có thể kết luận đây không phải là quan điểm của Đức Khổng Tử.
 
·       Nhu cầu phân công lao động trong Xã Hội Nông Nghiệp
 
Xã hội Trung Hoa thời Đức Khổng Tử là xã hội nông nghiệp với các phương tiện thô sơ, dùng sức lao động con người là chủ yếu. Đây thuộc loại lao động nặng, chỉ phù hợp với nam giới, nên người nam luôn là lao động chính trong gia đình. Chính vì nhu cầu cung cấp lao động cho một xã  hội nông nghiệp như vậy nên người nam được coi trọng hơn người nữ, vì họ có giá trị lao động cao hơn người nữ.
 Người nữ chỉ phù hợp với các  công việc TRONG nhà, còn những công việc NGOÀI xã hội phải do người nam đảm trách (Gái Trong kim chỉ Trai Ngoài bút nghiên). Điều này thể hiện rõ trong các câu ca dao sau :
 
Canh một dọn cửa dọn nhà
Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm
Canh tư bước sang canh năm
Trình anh dậy học chớ nằm làm chi
Nữa mai Chúa mở khoa thi
Bảng vàng chói lọi bia đề tên anh
 
·       Nhu cầu “nối dõi tông đường” trong chế độ phụ hệ
 
Xét về nhu cầu nối dõi tông đường, dòng tộc. Câu nói “ Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” có nghĩa là chỉ một người con trai cũng là có (người nối dõi) vì con cái anh ta mang họ cha, nghĩa là họ của gia tộc, trong khi có đến mười người con gái cũng như không vì con cái của cô ta sẽ mang họ chồng của cô ấy. Vì vậy có câu “Nữ sanh ngoại tộc”  (con gái thuộc về dòng tộc gia đình khác (chồng cô ta). Suy nghĩ này khiến cha mẹ thường quý con trai hơn con gái.
 
Về vấn đề trọng nam khinh nữ:  Dù đây không phải chủ trương của Đạo Nho, nhưng do bị gán ghép  quan niệm sai lầm này, khiến nhiều nơi, nhiều người thấm nhuần ảnh hưởng Nho Giáo, chỉ chú trọng vào việc sinh con trai gây nên sự mất cân đối trong tỷ lệ sinh con trai và gái, tạo thành những hậu quả tiêu cực cho xã hội. Điều này cần phải hiểu đúng lại cho Nho Giáo.
 
 
 VỀ NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ VI PHẠM NHÂN QUYỀN NỮ GIỚI
 
Các  tục lệ bó chân, thủ tiết thờ chồng, không cho học hành, thi cử, tham gia chính trường, quân đội, là một hình thức độc quyền của nam giới, nhằm loại bỏ người phụ nữ ra khỏi những hoạt động quan trọng trong xã hội. Người ta gán ghép điều này với Tam Tòng Tứ Đức, làm chuẩn mực đạo đức cho người phụ nữ. Sự gán ghép này là một vết đen làm lem luốc diện mạo của đạo Nho.
 
Khi tước bỏ quyền con người của phụ nữ ở những lãnh vực quan trọng như vậy. Nam giới của xã hội Trung Hoa thời đó không những bộc lộ sự ích kỷ của mình mà còn thể hiện sự tàn nhẫn độc ác của họ khi muốn biến người phụ nữ thành một thứ đồ vật sở hữu. Tập tục của một số quốc gia Đông Á quy định khi nhà vua chết đi thì phải chôn theo cùng với ông ta các phi tần mỹ nữ. Huyền Trân Công Chúa là một trường hợp điển hình nổi tiếng mà  ai trong chúng ta học sử Việt cũng đều đã biết.
Có lẽ tập tục này xuất phát từ cách hiểu câu “ Phu tử tòng tử” (Tam Tòng) như sau : “Chồng chết thì phải chết theo”. Thay vì hiểu “tòng tử” là “theo con” người ta lại muốn hiểu “tòng tử” là “chết theo” ! 
 
Sự “ăn hiếp quá đáng” của Nam giới khiến người ta liên tưởng đến “luật rừng xanh”  nơi mà sức mạnh là công lý. Nơi mà tiếng nói của kẻ mạnh là luật lệ của cộng đồng. Ở nơi đâu có kẻ mạnh, người yếu và trình độ tâm linh chưa tiến hoá cao, nơi đó có sự hà hiếp, bất công và kẻ yếu thế phải chịu đựng. Đó là nguyên nhân của sự vi phạm nhân quyền nữ giới.
 
TỔNG LUẬN CỦA GE-TVL.COM VỀ ĐẠO NHO
 
 
 
Nội dung Nho Giáo ( trong giới hạn được trình bày  của Ge-tvl.com )là những đạo lý rất quan trọng và cần thiết để con người sống thành công, hạnh phúc và ổn định trật tự xã hội. Những giáo lý của Đạo Nho mà Ge-tvl. com giới thiệu trong khuôn khổ bài này hoàn toàn phù hợp với các quy luật khách quan trong tự nhiên giới.
Đạo đức cá nhân dựa trên Ngũ Thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) và tất cả những đức tính khác của người Quân Tử là hoàn toàn hợp lý và cần được giảng dậy một cách chính quy cho mọi người để con người có đủ trí đức, quốc gia có được những công dân tốt.  Khi mỗi gia đình còn là “đơn vị nền tảng của xã hội” (ví như các tế bào của cơ thể) thì các mối quan hệ xã hội như Tam Cang hay Ngũ Luân tồn tại một cách hiển nhiên không có gì thay đổi (có lạ chăng là chúng ta phải hiểu quan hệ Vua-Tôi một cách “cập nhật” là Nhà Nước và Công Dân). Đạo đức được đề ra cho các mối quan hệ xã hội này cũng hoàn toàn hợp lý nếu người ta muốn xây dựng một đất nước hoà bình, ổn định.
Đối với phái nữ, khái niệm Công, Dung, Ngôn, Hạnh (Tứ Đức) hoàn toàn phù hợp với một người phụ nữ trong vai trò “Nội Tướng” quản lý mọi việc trong gia đình. Ở vai trò này thì Tam Tòng là một “phó phẩm” đi đôi với Tứ Đức.
Đối với Đạo Nho, vai trò của người phụ nữ, dù không quan trọng như Nam giới nhưng lại được đề cao hơn. Chúng ta thấy  Bậc “Mẫu Nghi Thiên Hạ” (Tiêu chuẩn (mẫu) cho mọi người không phải là Vua mà là Hoàng Hậu). Sở dĩ phụ nữ được đề cao như vậy, vì bà mẹ là người thầy đầu tiên của mọi con người, nên đức hạnh của người phụ nữ thông qua Tứ Đức là vô cùng cần thiết.
Ngoài ra điểm nhấn chính yếu đối với người phụ nữ là chữ TIẾT, chữ TIẾT của người phụ nữ rất quan trọng, (“Tiết” là một lóng tre được giới hạn bởi hai mắt ở hai đầu) nó được thể hiện cụ thể ở chữ Trinh. Tiết có nghĩa là Thẳng. Với người phụ nữ, “Tiết”  là sự đoan chính. Thông thường người ta coi TRINH TIẾT  là một, nhưng thực ra, phụ nữ “thất tiết” mới đáng lên án, còn “mất trinh” vì những lý do này khác ngoài ý muốn thì có thể thông cảm và tha thứ được.
 
Nguyễn Du cũng có cái nhìn rộng lượng với Kiều :
Như nàng lấy Hiếu làm Trinh
Bụi nào cho đục được mình ấy vay !
 
Vấn đề lớn đặt ra ở đây là
 “Liệu rằng TAM TÒNG TỨ ĐỨC có còn cần thiết và phù hợp với nữ giới ở thời hiện đại hay không khi mà người phụ nữ hiện nay có mặt và tham gia vào tất cả các lãnh vực của đời sống xã hội y như nam giới ? Liệu rằng Tam Tòng Tứ Đức có là khái niệm cổ xưa lỗi thời cần phải loại bỏ để “cởi trói” cho nữ giới như một số người quan niệm ?”
Trước khi nêu ý kiến về vấn đề này, chúng ta nhìn lại những chuyển biến ở các xã hội mà tư tưởng Nho Giáo ăn sâu mọc rễ : Cùng với sự tiến hoá của loài người về các mặt chính trị, kinh tế, tư tưởng… Nhân quyền của người phụ nữ cũng dần dần được nhìn nhận. Mặc dù không thể nói sự vi phạm quyền con người đối với nữ giới đã được xoá bỏ hoàn toàn, nhưng cơ bản đã có những thay đổi rõ rệt.
 
Nhẫn chịu trong sự đàn áp, bất công quá đáng trong suốt một thời gian dài như vậy, khi người phụ nữ được sánh vai ngang hàng cùng nam giới trong các hoạt động xã hội, họ có dịp “bùng nổ” xu hướng chống đối lại mọi “gông cùm, xiềng xích” đã cột trói họ lâu nay. Người phụ nữ không muốn “An” theo kiểu chữ viết kinh điển cũ (gồm chữ Nữ dưới bộ Mịch. Ý nói người phụ nữ ở trong nhà là An). Họ không chấp nhận “Nam nữ thọ thọ bất thân” (Trai gái chưa lấy nhau thì không được va chạm thân xác). Ngày nay, Thiếu nữ Trung Hoa khoả thân xuống đường nhảy múa khoe đường nét của thân thể để mong tìm được tấm chồng “đại gia”. Hành động này là một phản ứng dữ dội, chống lại phong cách, dịu dàng, kín đáo, nghiêm cẩn của người phụ nữ được giáo dục theo truyền thống Nho Giáo. Cùng với hành động “mạnh tay” như vậy, một bộ phận phụ nữ lên án quyết liệt quan niệm Tam Tòng Tứ Đức, coi như đó là “thủ phạm” đã “bỏ tù” họ từ bấy đến nay.  Chúng ta thấu hiểu và thông cảm với tâm lý ấy của phụ nữ.
 
Một cách công tâm mà nói. Tam Tòng Tứ Đức của Nho Giáo không hề sai hay vi phạm nhân quyền. Chỉ là nó giới hạn vai trò của nữ giới trong gia đình. Đây là một điểm hạn chế nghiêm trọng của Đạo Nho . Chính vì các chế độ phong kiến đề cao, khai thác và “phong phú hoá” điểm hạn chế này nên biến nó thành những hủ tục độc ác đối với phụ nữ.
 
Xét về mặt thể lực và tâm lý, người phụ nữ giữ vai trò chính trong gia đình là phù hợp với kiểu “mỗi gia đình là một đơn vị cơ bản” như tổ chức xã hội loài người hiện nay.  Tuy nhiên, xét về mặt trí lực, phụ nữ không hề thua kém nam giới, vì vậy phụ nữ có thể và có quyền tham gia vào mọi hoạt động như nam giới. Tuy nhiên, khi người phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã hội bên ngoài thì họ hoặc là phải kiêm nhiệm  luôn nhiệm  vụ quản lý gia đình bên trong (điều này là một bất công lớn cho người phụ nữ), hoặc là họ đẩy trách nhiệm quản lý gia đình cho người chồng, biến anh ta thành nội tướng, hoặc là chia xẻ công việc quản lý gia đình cùng với chồng. Điều này không phải lúc nào cũng dễ dàng, xuông sẻ và trôi chảy. Khi nữ giới muốn ra ngoài “bay nhảy” như nam giới, họ gặp phải những vấn đề lấn cấn như trên, mà tổ chức xã hội của loài người hiện nay chưa có giải pháp nào giúp họ giải quyết ổn thoả.
 
Trở lại vấn đề Tam Tòng, Tứ Đức. Để phù hợp với cuộc sống mới hiện nay, chúng ta phải mở rộng định nghĩa về Tứ Đức. Khi người phụ nữ không chỉ là “nội tướng” trong gia đình, thì Công, Dung, Ngôn, Hạnh của họ phải được hiểu theo nghĩa rộng như sau:
 
CÔNG : Năng lực làm việc và giải quyết các vấn đề của cuộc sống
DUNG : Trang phục và trang điểm cho ngoại hình phù hợp với các vai trò khác nhau của mình ở những nơi, những lúc khác nhau.
NGÔN : Nói năng phù hợp ở từng nơi, từng lúc, từng mối tương quan với các đối tượng.
HẠNH : Các đức tính tốt cần thiết phải có để xử sự trong cuộc sống.
 
Với định nghĩa mở rộng như vậy, thì Công, Dung, Ngôn, Hạnh này đồng thời cũng áp dụng cho cả nam giới. Nói cách khác, đó là điều mà mọi người cần phải hướng tới và rèn luyện trong cuộc sống.
 
Còn TAM TÒNG  thì sao ?
 
Với phụ nữ  “Tại gia tòng phụ” (ở nhà phải theo cha mẹ) “Xuất giá tòng phu” (Lấy chồng phải theo chồng) “ Chồng chết phải theo con”.
Ba chữ “Tòng” ở đây phải hiểu khác nhau. Đối với cha mẹ, người phụ nữ phải sinh sống cùng họ và nghe lời dạy bảo của họ. Đối với chồng, người phụ nữ phải sống với chồng và nghe lời chồng (vì Chồng là chủ gia đình). Khi Chồng chết, người goá phụ phải sống với con để tiếp tục quan tâm, chăm sóc, dậy bảo những đứa con mình, cũng như để con cái được quan tâm chăm sóc lại.
Tam Tòng thực sự không sai, nhưng không nên xem là quy định bắt buộc như Tứ Đức. Với cha mẹ, con cái phải sống với và phải nghe lời đấng sinh thành. Đó là điều hợp lý. Nhưng với chồng, ngày nay, trường hợp người phụ nữ làm chủ gia đình thì họ mới là người có quyền quyết định. Theo thiển ý, đây là điều bất hạnh cho người phụ nữ, vì họ không tìm được một đức lang quân xứng đáng để làm chủ gia đình. Sau khi chồng chết, người phụ nữ có quyền tái hôn, miễn là vẫn có thể làm tròn bổn phận, trách nhiệm nuôi dậy những đứa con mình….
 
Với những nội dung như trên, chỉ cần chỉnh sửa lại một số cách nhìn về Nho Giáo. Chúng ta tin rằng trở thành người Quân Tử như lý tưởng của Đạo Nho để xứng đáng làm NGƯỜI, thì đó cũng đủ là một lý tưởng tuyệt vời cho nhân loại.
 
 
 
 
 ĐẠO GIÁO hay còn gọi là LÃO GIÁO
 
 
Người khai sáng ra Đạo Giáo là Lão Tử
 
 
CHÂN DUNG LÃO TỬ
 
( Biên soạn từ tài liệu Wikipedia)
 
 
 
    Lão T ()
Tên riêng của Lão Tử có thể là Lý Nhĩ (李耳), tên tự của ông có thể là Bá Dương (伯陽),   tên thụy của ông là Đam, (聃) có nghĩa là "Bí ẩn".
Lão Tử cũng được gọi là:
  • Lão Đam (老聃)
  • Lão Quân (老聃)
  • Thái Thượng Đạo Tổ
  • Lão TửĐạo Quân (老子道君)
  • Huyền Đô đại lão gia
      Dưới thời nhà Đường họ Lý, để tạo mối liên hệ với Lão Tử, coi ông là tổ tiên của HoàHoàng gia, truy phong làm hoàng đế. Đời Đường Cao Tông tôn là Thái Thượng HuyHuyền Nguyên Hoàng Đế, đến đời Đường Huyền Tông lại gia phong là Đại Thánh tổ Cao Cao Thượng Đại đạo Kim khuyết Huyền nguyên Thiên hoàng Đại Đế.
 
Cái tên "Lão Tử" là danh xưng kính trọng. Lão (老) có nghĩa "đáng tôn kính" hay "già". Tử (子) dịch theo nghĩa đen là "chú bé", nhưng nó cũng là một thuật ngữ chỉ một đẳng cấp quý tộc tương đương với Tử tước, cũng như là một thuật ngữ tỏ ý tôn kính được gắn với những cái tên của những bậc thầy đáng kính trọng. Vì thế, "Lão Tử" có thể được dịch tạm thành "bậc thầy cao tuổi.
 
 
Lão Tử (Tiếng Trung: 老子, cũng được chuyển tự thành Lao Tzu, Lao Tse, Laotze, Laotsu, và một số cách khác) là một nhân vật chính yếu trong Triết học Trung Quốc, sự tồn tại của ông trong lịch sử hiện vẫn đang còn được tranh cãi. Theo truyền thuyết Trung Quốc, ông sống ởthế kỉ 6 TCN. Nhiều học giả hiện đại cho rằng ông sống ởthế kỉ 4 TCN, thời Bách gia chư tử và thời Chiến Quốc. Lão Tửđược coi là người viết Đạo Đức Kinh (道德經) - cuốn sách của Đạo giáo có ảnh hưởng lớn, và ông được công nhận là Khai tổ của Đạo giáo (Đạo tổ道祖).
 
Có thuyết cho rằng Lão Tử sinh năm 604 TCN thời nhà Chu. Năm mất không xác định, nhưng cũng được cho là thuộc thời đại nhà Chu. Sau ông, một nhân vật nổi tiếng khác được cho là kế thừa học thuyết của ông. Đó là TRANG TỬ
 
 
 
                                              CUỘC ĐỜI 

Người ta biết được rất ít về cuộc đời Lão Tử. Sự hiện diện của ông trong lịch sử cũng như việc ông viết cuốn "Đạo Đức Kinh" đang bị tranh cãi rất nhiều. Lão Tửđã trở thành một anh hùng văn hóa quan trọng đối với các thế hệ người Trung Quốc tiếp sau. Truyền thuyết cho rằng ông sinh ra ở huyện Khổ (苦縣) nước Sở (楚), hiện nay là Lộc Ấp (鹿邑) thuộc tỉnh Hà Nam, trong những năm cuối thời Xuân Thu. Một số truyền thuyết nói rằng khi sinh ra tóc ông đã bạc trắng, vì ông đã nằm trong bụng mẹ 8 hay 80 năm, điều này giải thích cho cái tên của ông, có thểđược dịch thành "bậc thầy già cả" và "đứa trẻ già".

 
          Lão Tử dị tướng ngay từ khi mới sinh ra
Theo truyền thống, và một tiểu sử gồm cả trong cuốn sử của Tư Mã Thiên, Lão Tử là người cùng thời nhưng lớn tuổi hơn Khổng Tử và làm quan giữ sách trong thư viện triều đình nhà Chu. Khổng Tửđã có ý định hay đã tình cờ gặp ông ở nước Chu, gần nơi hiện nay là Lạc Dương, nơi Khổng Tửđịnh đọc các cuốn sách trong thư viện. Theo những câu chuyện đó, trong nhiều tháng sau đó, Khổng Tử và Lão Tửđã tranh luận về lễ nghi và phép tắc, vốn là những nền tảng của Khổng giáo. Lão Tử cho rằng việc khôi phục lễ giáo thời nhà Chu của Khổng Tửđể giúp thiên hạ thái bình là không thực dụng[1][2]. Truyền thuyết Đạo giáo kể rằng những cuộc tranh luận đó có ích cho Khổng Tử nhiều hơn so với những gì có trong thư viện.
Sau này, Lão Tử nhận thấy rằng chính sự của đất nước đang tan rã và quyết định ra đi. Ông đi về phía Tây trên lưng một con trâu qua nước Tần và từđó biến mất vào sa mạc rộng lớn. Truyền thuyết kể rằng có một người gác cửa tên Doãn Hỉở cửa phía tây của ải Hàm Cốc thuyết phục Lão Tử viết lại những hiểu biết của mình trước khi đi vào sa mạc. Cho tới lúc ấy, Lão Tử mới chỉ nói ra các triết thuyết của ông mà thôi, và giống như trường hợp của Chúa Giêsu, Phật, và Khổng Tử (những cuốn văn tuyển của họ hầu nhưđược hoàn thành bởi các đệ tử). Theo yêu cầu của người lính đó, Lão Tửđã viết để lại cuốn "Đạo Đức Kinh". Nhiều cuốn ghi chép và bức tranh về Lão Tử còn lại đến ngày nay, thường thể hiện ông là một người già hói đầu với một chòm râu trắng hay đen và rất dài; ông thường cưỡi trên lưng một con trâu.
Một số vấn đề vẫn còn được tranh luận về cuộc đời Lão Tử gồm:
Những tranh cãi đã nổ ra về việc "Lão Tử" là một bút danh của Đam, Thái sửĐam (太史儋); hay một ông già từ Lai, một quận thuộc nước Tề (齊); hay một nhân vật lịch sử nào đó.
Cũng có người tin rằng "Đạo Đức Kinh" được viết như một cuốn sách hướng dẫn dành cho các vị vua về việc họ phải cai trị đất nước như thế nào theo một cách thức tự nhiên hơn: "Cai trị bằng cách không cai trị". Điều này có thể thấy trong nhiều đoạn trong "Đạo Đức Kinh", khi nói rằng: "Không tán dương người quyền quý thì người dân không tranh tụng" và "Không đề cao giá trịđồ quý thì người dân không tranh cướp" và "Dân chúng đói khổ là kết quả của thuế nặng. Vì thế, không có nạn đói".....
 
 ( BÀI VIẾT CỦA GE-TVL.COM)
 
 
NỘI DUNG CỦA ĐẠO GIÁO
Tác phẩm duy nhất của Lão Tử, cuốn ĐẠO ĐỨC KINH, là một trong những cuốn chuyên luận đáng chú ý nhất trong lịch sử triết học Trung Quốc. Nó là một KIỆT TÁC được cho là của ông. Nói đến Đạo Giáo là nói đến Đạo Đức Kinh, nó chứa đựng toàn bộ tư tưởng của Lão Tử cũng như nội dung của Đạo Giáo.
Đã có một số học giả Việt Nam biên dịch và giải thích  Đạo Đức Kinh, trong đó có các vị như Nghiêm Toản, Thu Giang Nguyễn Duy Cần…Tuy nhiên, Ge- Tvl. com có cách nhìn theo quan điểm của mình. Vì thế chúng tôi sẽ trình bày, giải thích theo góc độ của mình.
 
Do không tiện ghi lại chữ Hán . (Đây là một điều thiếu sót đáng tiếc, song chúng tôi đành phải cáo lỗi cùng Quý Độc Giả về điều này)  nên chúng tôi chỉ ghi nguyên câu Hán Văn rồi dịch sang tiếng Việt sau đó chú giải và bình luận. Chúng tôi mong rằng việc làm của chúng tôi sẽ đem lại nhiều lợi ích cho độc giả  khi chúng ta có thể trang bị cho mình những tư tưởng của Lão Tử - VÀ QUAN TRỌNG HƠN- có thể ứng dụng nó vào đời sống thực tại của mình.  
  
  
LÃO TỬ ĐẠO ĐỨC KINH
 
 
(Chịu trách nhiệm biên dịch và bình chú : BS. ĐỖ NGỌC THANH )
 
Kính thưa Quý Độc Giả ;

Để hiểu thấu đáo một tác phẩm, người ta cần biết về tác giả, thời đại, địa phương và hoàn cảnh nơi tác giả sinh sống…Với những thông tin như vậy, người đọc có thể hiểu được nhiều hơn về tư tưởng của tác giả, cách suy nghĩ và diễn đạt. Đối với Lão Tử, những thông tin này thật là mập mờ, thiếu chính xác, nên việc tìm hiểu tác phẩm của Ông thông qua những chi tiết này thì thật khó.

Lão Tử không trực tiếp viết Đạo Đức kinh, nên bố cục tác phẩm và tính chính xác so với tư tưởng của tác giả  (có thể) ít nhiều cũng có sự thiếu thống nhất.
 
Ngoài ra chữ Hán là một ngôn ngữ, xúc tích, cô đọng nhiều nghĩa, khiến cho người đọc đôi khi có thể hiểu lầm ý tứ của câu, nếu không nắm bắt được bản ý của tác giả và ngữ cảnh của câu văn.
 Đối với những tác phẩm mang tính Triết Học và Tôn Giáo, chúng ta thường thấy tư tưởng của tác giả được chuyển tải dưới hình thức các câu chuyện ẩn dụ, các ví dụ, so sánh…những điều tác giả muốn nói với những sự việc thông thường dễ hiểu. Có lẽ điều này đem độc giả lại gần với tác phẩm hơn. ĐẠO ĐỨC KINH cũng là một tác phẩm thuộc dạng như vậy. 

Đạo Đức Kinh gồm 81 chương,  nội dung chính của tác phẩm là đề cập đến bản thể vũ trụ, các quy luật tự nhiên, sự ứng dụng các quy luật ấy vào đời sống cá nhân và quản lý nhà nước. Chúng tôi chia nội dung tác phẩm theo ba nhóm như sau :

A.     Các Quy luật tự nhiên  (QLTN) trong vũ trụ

B.     Ứng Dụng QLTN vào đời sống cá nhân

C.     Các nguyên tắc cai trị Quốc Gia .

Để Quý Độc Giả tiện theo dõi và làm cho ý nghĩa của tác phẩm trở nên minh bạch hơn, chúng tôi đã  bố cục lại tác phẩm trên theo thứ tự ba nội dung chính vừa nêu, đồng thời chú giải và bình luận theo các trình tự đó.

 

 A. CÁC QUY LUẬT TỰ NHIÊN

 

CHƯƠNG 1
      HÁN VĂN
 
 Đạo khả đạo, phi Thường  Đạo. Danh khả danh, phi Thường Danh
 Vô Danh thiên địa chi thuỷ. Hữu Danh vạn vật chi mẫu
Cố
                                    Thử lưỡng giả đồng
   Xuất nhi dị danh
Đồng vị chi huyền
Huyền chi hựu huyền
Chúng diệu chi môn
 
Thường vô dục dĩ quan kỳ diệu
 Thường hữu dục dĩ quan kỳ kiếu.
 
 
DỊCH NGHĨA
ĐẠO” có thể nói được, không phải là cái ĐẠO THƯỜNG HẰNG

TÊN mà có thể gọi được không phải là cái TÊN THƯỜNG HẰNG

            Không Tên là gốc của Trời Đất
            Có Tên là mẹ của vạn vật
Bởi vậy
Hai cái đó, đồng với nhau
Cùng một gốc, tên khác nhau
Đồng, đến mức Huyền
Huyền rồi lại thêm  Huyền
Đó là cửa vào ra của mọi huyền diệu trong trời đất.
 
Thường không tư dục, mới nhận được chỗ huyền diệu của Đạo
Thường bị tư dục, nên chỉ thấy chỗ chia lìa
 
 
 
BÌNH CHÚ
 
ĐẠO” có thể nói được, không phải là cái “ĐẠO THƯỜNG HẰNG

TÊN” mà có thể gọi được không phải là cái “TÊN THƯỜNG HẰNG

ĐẠO () là một từ chữ Hán, thường được dùng để chỉ “con đường” (nghĩa đen và nghĩa bóng) “Tín ngưỡng”, “Tôn Giáo” “Lối sống” v.v…. Ở tác phẩm này từ “ĐẠO” dùng để chỉ “con đường” theo nghĩa bóng. Đây chính là BẢN THỂ VŨ TRỤ và những Nguyên Lý Tự Nhiên điều hành sự sống. Nói cách khác ĐẠO ở đây chính là chân lý tối hậu.
 
DANH được dùng ở đây để chỉ hết thẩy các sự vật, sự việc trên đời.
 
            Không Tên là gốc của Trời Đất
            Có Tên là mẹ của vạn vật
 
Hai câu này nói về hai giai đoạn trước và sau khi vũ trụ hình thành. Trước khi vũ trụ hình thành (giai đoạn tiên thiên) thì mọi vật không thể định danh nên gọi là Vô Danh .Sau khi vũ trụ hiện hữu  (giai đoạn hậu thiên) thì mọi vật đã có thể được nhận diện và định danh nên gọi là Hữu Danh.
 
 Cố (vì thế cho nên)
Hai cái đó, đồng với nhau
Cùng một gốc, tên khác nhau
 
Hai câu này ý nói Tiên Thiên (vô danh) và Hậu Thiên (hữu danh) chỉ là một, sở dĩ gọi tên khác  nhau chỉ vì nó thuộc hai giai đoạn khác nhau và thể hiện khác nhau mà thôi.
 
Đồng, đến mức Huyền
Huyền rồi lại thêm Huyền
 
Đồng : nghĩa là như nhau, huyền : nghĩa là thâm sâu, vi diệu
 
Cái “Vô” và cái “Hữu” là hai mặt đối lập của cùng một thực thể, đây là khái niệm “Âm Dương” của Kinh Dịch. Vô và Hữu liên tục tác động lẫn nhau, chuyển hoá qua lại với nhau trong một hoạt động hoà quyện vào nhau, hoà quyện đến mức thâm sâu vi tế.
 
                Đó là cửa vào ra của mọi huyền diệu trong trời đất.
 
vô và hữu hoà quyện thâm sâu đến hết mức tưởng tượng của ta, đó là nguyên lý vi diệu của bản thể vũ trụ, và của mọi hoạt động của đất trời.
 
Thường không tư dục, mới nhận được chỗ huyền diệu của Đạo

Thường bị tư dục, nên chỉ thấy chỗ chia lìa (phân biệt hữu vô)

 
Con  người nếu không bị lòng vị kỷ che mờ chân tánh, trí tuệ thông suốt sáng tỏ, mới nhận ra được nguyên lý huyền diệu ấy. Người bị tánh ích kỷ làm cho mê mờ, nhận định sai quấy, lầm lạc nên chỉ thấy sự thể hiện giả tạm của hiện tượng .
 
TỔNG LUẬN
 
Chương đầu tiên là một trong những chương nói về tư tưởng cơ bản của tác phẩm.
Lão Tử cho rằng chân lý là điều không thể trình bày rõ ràng thẳng thắn cho mọi người hiểu được, giống như Đức Phật khi nói đến Chân Lý, ngài lẳng lặng đưa một cành hoa sen lên, chỉ có Ca Diếp mỉm cười vì ngài thầm lãnh hội được ý chỉ này của Đức Phật. Khi nói đến chân lý tối hậu, Phật  thường nói “bất khả tư nghì” (không thể nghĩ bàn), nên thường có câu “Đạo giả, ý dã !” ( Muốn hiểu Đạo chỉ có thể hội Ý mà thôi).
Tại sao chân lý lại không thể truyền đạt một cách thẳng thắn và rõ ràng ? -  Vì chân lý tối hậu là đỉnh cao tuyệt đối của SỰ THẬT, chỉ có một thiểu số con người siêu việt mới có sự hiểu biết đạt đến đỉnh cao ấy, mới trải nghiệm cái “cảnh giới” tối thượng ấy . Đó là nơi sự lý luận biện giải thông thường của lý trí không giải thích được, các giác quan thông thường của loài người không nhận biết được. Ngôn ngữ loài người chỉ có thể làm cho người ta hiểu được những điều phổ thông trong tầm giới hạn thông thường của con người và  nó trở nên bất lực khi phải làm những điều xa hơn thế nữa. 
Một câu chuyện mô tả về chân lý khá nổi tiếng là mẩu đối thoại “trật chìa” giữa cá và rùa. Rùa sống được cả hai nơi, dưới nước và trên cạn, còn cá thì không. Vì thế, cá không thể hình dung được một môi trường sống nào đó mà lại không có nước ! Có thể so sánh rùa và cá như người đã giác ngộ và một người bình thường.

 

Sau khi tuyên bố về sự “bất khả đạo” “bất khả danh” của Chân lý, Lão Tử  nêu lên một nguyên lý lớn của vũ trụ. Đó là nguyên lý Âm Dương (vô và hữu) hình thành từ hai giai đoạn tiên thiên và hậu thiên của vũ trụ. Nhìn một cách biểu kiến, chúng có vẻ như hai mặt đối lập tương phản, nhưng người có trí tuệ nhìn sâu vào bản thể của vũ trụ, biết rằng hai mặt đối lập ấy vừa tương đồng với nhau vừa là động lực kích hoạt lẫn nhau, chuyển  hoá thành nhau khắng khít không rời để tạo nên thế quân bình của hai mặt ấy, giữ cho thể thống nhất của chúng tồn tại vững bền. Sự hoà quyện này thâm sâu, vi tế đến tận cùng. Người trí giả không bị sự ích kỷ che mờ tâm trí nên thấy được sự diệu kỳ này , kẻ mê mờ vì tâm tư lợi nhỏ nhen nên không thấy được chân lý ấy.

Ngay ở chương đầu tiên này, Lão Tử đã lập tuyên ngôn về thuyết Âm Dương

 

 

CHƯƠNG 2
      HÁN VĂN
 
Hữu vật hỗn thành
Tiên thiên địa sanh
Tịch hề liêu hề
Độc lập bất cải
Châu hành nhi bất đãi
Khả dĩ vi thiên hạ mẫu
 
Ngô bất tri kỳ danh
Tự chi viết Đạo
Cưỡng vi chi danh viết Đại
Đại viết Thệ
Thệ viết Viễn
Viễn viết Phản
 
Cố, Đạo đại, Thiên đại
Địa đại, Vương diệc đại
Vực trung hữu tứ đại
Nhi vương cư kỳ nhất yên
 
Nhơn pháp Địa
Địa pháp Thiên
Thiên pháp Đạo
Đạo pháp tự nhiên
 
DỊCH NGHĨA
Có vật hỗn độn mà nên
Sanh trước trời đất
Yên lặng, trống không
Đứng riêng mà không đổi
Đi khắp mà không mỏi
Có thể là Mẹ thiên hạ
 
Ta không biết tên
Gọi đó là ĐẠO
Gượng cho là lớn
Lớn là tràn khắp
Tràn khắp là đi xa
Đi xa rồi lại trở về
 
Vậy, Đạo lớn, Trời lớn
Đất lớn, Người cũng lớn
Trong đời có bốn thứ lớn
Mà Người là  một
 
Người bắt chước Đất
Đất bắt chước Trời
Trời bắt chước Đạo
Đạo bắt chước tự nhiên
 
                                              BÌNH CHÚ

 

Đoạn văn : “ Có vật hổn độn mà nên ……Có thể là Mẹ thiên hạ” .Đoạn văn này, Lão Tử muốn mô tả tình trạng vũ trụ trước khi hình thành. Nói theo ngôn ngữ Kinh Dịch, thì đây là trạng thái Tiên Thiên cũng còn gọi là Ngôi Vô Cực. So sánh với khoa học hiện đại, theo thuyết Big Bang thì trước Vụ Nổ Lớn, vũ trụ còn ở trạng thái hỗn độn sơ khai, các nhà khoa học miêu tả tình trạng này là “ Nồi cháo Quark”. 

                              Yên lặng, trống không

                             Đứng riêng mà không đổi

                               Đi khắp mà không mỏi 

Đây là hành trạng của vũ trụ trước khi hình thành. Lão Tử  mô tả bằng ngôn ngữ thông thường để mọi người có thể “có khái niệm” và hình dung ra “dung mạo” và hoạt động của vũ trụ khi còn ở Ngôi Vô Cực.

 

Đoạn văn : “Ta không biết tên ….Đi xa là trở về”. Ở đây, Lão Tử đặt tên cho Bản Thể, Nguyên Lý Hoạt Động của Vũ Trụ là ĐẠO 

                                  Gượng cho là lớn

                                  Lớn là tràn khắp

Vũ trụ mênh mông không thể so sánh với cái gì, nên Ngài nói :”Gượng cho là lớn” Lớn đến mức tuyệt đối  (tràn khắp) 

                                   Tràn khắp là đi xa

                                   Đi xa  rồi lại  trở về

Hai câu này mô tả Nguyên Lý Tuần Hoàn của vũ trụ, tương đương với cách nói của Kinh Dịch là “Vòng Ngọc không đầu mối”. Với Khoa học, thì mỗi chu kỳ của vũ trụ bắt đầu từ Big Bang và kết thúc ở Big Crunch. Ta có thể hình dung điều này giống như một hơi thở ra, hít vào của vũ trụ. Lão Tử dùng hình ảnh đơn giản để diễn tả : “Đi xa rồi lại trở về”. 

Đoạn văn : “Vậy Đạo lớn, Trời lớn….mà Người là một”. Trong hành tinh trái đất của chúng ta, Lão Tử khẳng định có bốn thứ quan trọng nhất : vũ trụ - Trời - Đất và Người. (câu :  “Địa đại Vương diệc đại”  chữ Vương dùng ám chỉ con người (Vua của muôn loài 

Đoạn văn “ Người bắt chước Đất….Đạo bắt chước tự nhiên”. Theo thứ tự trên dưới và quan trọng, thì cái nào ở dưới phải tuân thủ cái ở trên. Do đó Người phải tuân theo Đất, Đất phải tuân theo Trời, Trời phải tuân theo Đạo. Đạo phải tuân theo  tự nhiên. (Tự Nhiên ở đây là các Quy Luật Hoạt Động của Vũ Trụ).

Đây là một trong những tư tưởng chủ đạo của Đạo Đức Kinh và là Nguyên Tắc Sống lớn nhất mà Lão Tử đề ra trong học thuyết của Ngài. 

TỔNG LUẬN 

Chương hai, Lão Tử mô tả trạng thái vũ trụ trước khi hình thành, các nguyên lý hoạt động và tính chất của các hoạt động này. Sự mô tả của Lão Tử trùng khớp với Kinh Dịch và Khoa  Học ngày nay.  

 

CHƯƠNG 3
 
      HÁN VĂN
 
Đạo sanh chi.  Đức súc chi
Vật hình chi. Thế thành chi
Thị dĩ vạn vật mạc bất tôn Đạo, nhi quý Đức
 
Đạo sanh chi. Đức súc chi
Trưởng chi dục chi. Đình chi độc chi.Dưỡng chi phúc chi
Sanh nhi bất hữu. Vi nhi bất thị
Trưởng nhi bất tể. Thị vị Huyền Đức
 
CỐ
Đạo chi tôn
Đức chi quý
Phù mạc chi mạng nhi thường tự nhiên
 
DỊCH NGHĨA
Đạo sanh ra (vạn vật )
Đức nuôi dưỡng (vạn vật)
Muôn vật từ đó được hình thành
Thế giới từ đó hiện hữu
Vậy nên muôn vật không thể không tôn Đạo và quý Đức
 
Đạo sanh ra vạn vật
Đức nuôi nấng vạn vật
Dậy dỗ và làm cho trưởng thành
Đùm bọc và thêm sức
Nuôi dưỡng và che chở
 
(Đạo sanh ra vạn vật)
Mà không sở hữu vạn vật
               Làm mà không kể đến công lao (của mình như vậy)
Là bậc trên mà không coi mình là chủ nhân
Đó là cái Đức thâm sâu vi diệu.
 
Vì thế
 
Đạo được tôn
Đức được quý
Không phải là nhiệm vụ bắt buộc (con người)
Mà là một điều  tự nhiên (phải làm)
 
 
BÌNH CHÚ
 
ĐẠO (thuyết Âm Dương) sanh ra Vạn Vật

ĐỨC ( thuộc tính của Âm Dương (Â.D)như :Â.D bình hành, Â.D mâu thuẫn Â.D chuyển hoá, Â.D thống nhất ) nuôi dưỡng vạn vật khiến cho vạn vật được tồn tại .

ĐẠO và tính năng của Đạo là ĐỨC hình thành nên và trưởng dưỡng vũ trụ vạn vật, vì thế vạn vật không thể không tôn Đạo và quý Đức .

Đạo và Đức sinh ra, nuôi dưỡng, đùm bọc, che chở, tiếp sức để vạn vật tồn tại, dậy dỗ để vạn vật trưởng thành

 Đạo sinh ra vạn vật mà không sở hữu vạn vật, Đức giúp cho vạn vật tồn tại và phát triển mà không hề tính công. “Đạo” là “Bậc cao cả tối thượng” mà không coi mình là chủ nhân, coi vạn vật là thứ sở hữu (vì vạn vật có toàn quyền tự do trong suy nghĩ và hành xử), đó là cái Đức thâm sâu cao cả nhất.

 Vì thế

Tôn Đạo, quý Đức dù không phải là điều bị bắt buộc, nhưng đó là việc phải làm vì hợp lẽ tự nhiên.

 

TỔNG LUẬN 

Chương 3, Lão Tử đề cập đến Bản Thể Vũ Trụ, Nguyên Lý Hoạt Động của vũ trụ, đó là ĐẠO ĐỨC .Đây là nội dung chính của toàn thể tác phẩm và là lý do để tác phẩm có tên là ĐẠO ĐỨC KINH 

 

CHƯƠNG 4
 
      HÁN VĂN
 
Phản giả Đạo chi động
Nhược giả Đạo chi dụng
 
Thiên hạ vạn vật sanh ư hữu
Hữu sanh ư Vô
 
DỊCH NGHĨA
 
Trở lại là cái động của Đạo
Yếu mềm là cái dụng của Đạo
Vạn vật dưới Trời sanh nơi Có
“Có” sanh nơi “Không”
 
 
           BÌNH CHÚ 
  

Về mặt triết lý, khi nhận định một đối tượng, người ta luôn đề cập đến ba lãnh vực của đối tượng đó. Đó là THỂ : Bản thể. TƯỚNG : Hình thức thể hiện. DỤNG : Công năng, sử dụng.

Ở đây, đoạn văn nhắc lại một ý trong nguyên lý hoạt động của Đạo, đó là Nguyên lý Vũ Trụ Tuần Hoàn theo chu kỳ

Trở lại là cái động của Đạo (nhắc lại ý của câu : “Đi xa rồi lại về gần”). Đây là Tướng của Đạo

Yếu mềm là cái Dụng của Đạo : Yếu tố Tiêu cực của Đạo, Kinh Dịch gọi là Âm, Lão Tử gọi là Dụng của Đạo.

Vạn Vật dưới Trời sanh nơi Có

“Có” sanh nơi “Không”

Lão Tử nhắc lại cái Thể của Đạo đã được đề cập đến, giống như Kinh Dịch mô tả : Vô Cực  (không) sanh Thái Cực (Có) {Thái Cực sanh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sanh Tứ Tượng, Tứ Tượng sanh Bát Quái, Bát Quái sanh Lục Thập Tứ (64)quẻ. } Lục Thập Tứ quẻ sanh vạn vật. Điều này cũng tương đồng với thuyết Big Bang của Khoa Học

 

TỔNG LUẬN

 

Chương 4 Đạo Đức Kinh nói về THỂ, TƯỚNG, DỤNG của ĐẠO

 

CHƯƠNG 5
     
HÁN VĂN   
 
Khổng Đức chi dung
Duy Đạo thị tùng
 
Đạo chi vi vật
Duy hoảng duy hốt
Hốt hề hoảng hề
Kỳ trung hữu tượng
Hoảng hề hốt hề
Kỳ trung hữu vật
Yểu hề minh hề
Kỳ trung hữu tinh
Kỳ tinh thậm chân
Kỳ trung hữu tín
 
Tự cổ cập kim
Kỳ danh bất khứ
Dĩ duyệt chúng phủ
 
Ngô hà dĩ tri chúng phủ
Chi trạng tai ?
Dĩ thử
 
DỊCH NGHĨA
Hình trạng của Đức thì rất lớn
Đức luôn đi cùng với Đạo
 
Đạo sanh ra vạn vật
Chỉ là thấp thoáng  chỉ là mập mờ
Mập mờ thấp thoáng
Trong đó có hình tượng
Thấp thoáng mập mờ
Trong đó có vật chất
Sâu xa tăm tối
Trong đó có Tinh thần
Tinh thần này rất chân thực
Trong đó có chữ tín
 
Từ xưa đến nay
Điều này luôn tồn tại (chưa từng mất)
Nên có thể công nhận nó
 
Ta làm sao biết được trạng thái của Đạo ?
Ấy là nhờ điều này vậy.
 
BÌNH CHÚ
 
Chương này chia làm ba nội dung. Hai câu đầu, nhắc lại sự liên kết gắn bó giữa Đạo và Đức, trong đó Đức là tính năng của Đạo. Tính năng này thì rất lớn.

Đoạn văn : “Đạo sanh ra vạn vật…Trong đó có chữ Tín”

Những tính từ như “Thấp thoáng mập mờ, mập mờ thấp thoáng” khiến ta hình dung bản thể vũ trụ là không có gì rõ rệt, khi ẩn khi hiện, khi có khi không, như Kinh Phật mô tả vũ trụ là “Chân Không Diệu Hữu (Trống Không mà hàm chứa Có Tất Cả). Khoa học cũng diễn tả là “bản thể vũ trụ là Sóng và Hạt” . Tình trạng “mập mờ thấp thoáng” là mô tả sự ẩn hiện khi hai dạng  Sóng và Hạt liên tiếp không ngừng chuyển đổi lẫn nhau. Cái mập mờ ẩn hiện ấy có công năng định hình vũ trụ vạn vật. Nó hàm chứa vật chất. Trong sâu thẳm của sự huyền bí này là Vật chất hàm chứa Ý Thức. (Ở đây Lão Tử dùng từ “Tinh”).

 BẢN THÂN VẬT CHẤT LÀ Ý THỨC.  Đây là tuyên ngôn tối quan trọng của Lão Tử về vũ trụ. Để nhấn mạnh điều này. Đạo Đức Kinh còn nói “Đây là điều rất chân thực” và không hề thay đổi, sai chạy (Trong đó có chữ Tín).

Đoạn ba, Kinh văn khẳng định điều này là chân lý bất biến, nên nhờ đó Lão Tử mới nhận ra. 

TỔNG LUẬN

 

Chương 5 là chương đặc biệt quan trọng vì Lão Tử đề cập đến mối quan hệ giữa Vật Chất và Tinh thần. Nói cách khác là giữa Vật Chất và Ý Thức. Theo Ông Vật Chất và Ý thức là một .

Quan điểm này trùng hợp với quan điểm của Phật Giáo về Vũ Trụ

 

CHƯƠNG 6 
 
      HÁN VĂN
 
Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất doanh
Uyên hề tự vạn vật chi tông
 
Toả kỳ nhuệ
Giải kỳ phân
Hoà kỳ quang
Đồng kỳ trần
 
Trạm hề tự hoặc tồn
Ngô bất tri thuỳ chi tử
Tượng đế chi tiên
DỊCH NGHĨA
 
Đạo thì trống không nhưng đổ vô mãi mà không đầy
Đạo thì sâu thẳm mà là tổ tông của vạn vật
 
(Đạo thì làm)
Nhụt đi những bén nhọn
Hoá giải những chia cắt
Hoà chung những ánh sáng
Đồng chung cùng bụi bặm
 
Nó tự tại  mà trường tồn
Ta không biết nó là con ai
Dường như có trước Thiên đế.
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một gồm hai câu đầu : Mô tả chung về tính chất của Bản Thể Vũ Trụ : Trống Không mà có đến vô tận. Sâu xa huyền bí và là cội nguồn phát sinh ra vạn vật.

Đoạn hai từ câu thứ ba đến câu thứ sáu :Nguyên tắc của sự sống là hoạt động điều hoà giữa hai yếu tố Tích Cực và Tiêu Cực. (Dương và Âm). Để đạt đến sự điều hoà này thì các yếu tố tiêu cực (Âm) phải kiềm chế các yếu tố tích cực (Dương).

Đoạn ba gồm ba câu cuối : Nguyên tắc điều hoà Âm Dương ấy là chân lý bất biến, nó có từ trước trời đất.

 

TỔNG LUẬN 
Chương 6, Đạo Đức Kinh tiếp tục bàn về nguyên lý Âm - Dương

 

CHƯƠNG 7
     
HÁN VĂN
 
Thiên hạ chi chí nhu
Trì sính thiên hạ chi chí kiên
Vô hữu nhập vô gian
Ngô thị dĩ tri vô vi
Chi hữu ích
 
Bất ngôn chi giáo
Vô vi chi ích
Thiên hạ hi cập chi
 
DỊCH NGHĨA
Cái rất mềm của thiên hạ
Thắng cái rất cứng trong thiên hạ
Cái “không có” còn xen vào được chỗ không thể xen vào
Do đó mà ta biết được sự lợi ích của “Vô Vi”
 
Dạy bảo mà không cần đến lới nói
Sự lợi ích của Vô Vi
Trong thiên hạ ít ai hiểu kịp
 
    BÌNH CHÚ
 

Đoạn một , hai câu đầu : Tiêu cực nếu khéo biết dùng có thể thắng cái tích cực . hai câu sau cùng ý với hai câu đầu. Tuy nhiên, hai câu sau nói về cái DỤNG của Đạo, hai câu này hàm ý : Những nguyên lý tự nhiên điều hành vũ trụ thì con người không thể xen vào mà thay đổi được (chỗ không thể xen vào). Vì vậy hãy dùng cái “không có” để xen vào (ý nói là đừng xen vào). Đó là ích lợi của VÔ VI” (không làm nghĩa là: Không xen vào để làm thay đổi các nguyên lý tự nhiên).

Đoạn hai: Dạy bằng lời (ngôn giáo) không hiệu quả bằng việc dạy bằng  bằng chính hành động của bản thân mình (thân giáo).

Sự lợi ích của VÔ VI, trong thiên hạ ít người hiểu được.

 

TỔNG LUẬN
 
Chương 7, Đạo Đức Kinh đưa ra quan điểm ứng xử của mình trong cuộc sống là "VÔ VI" (không làm những việc xen vào để thay đổi các Quy Luật Tự Nhiên )                            

                            CHƯƠNG 8

      HÁN VĂN
 
Cốc thần bất tử
Thị vị huyền tẫn
 
Huyền tẫn chi môn
Thị vị Thiên Địa căn
 
Miên miên nhược tồn
Dụng chi bất cần
DỊCH NGHĨA
Thần hang không chết
Nên đó là  “Huyền tẫn”
 
Cửa của Huyền tẫn
Gốc rễ của đất trời
 
Dằng dặc như còn hoài
Dùng hoài mà không hết
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một gồm hai câu : “Thần hang” ý chỉ cho hư không “Huyền Tẫn” ý chỉ cho Trời Đất -  Âm Dương (hay là Mẹ nhiệm mầu) . Hai câu này  muốn nói Hư Không là vĩnh cửu, là Đức Mẹ Nhiệm Mầu.

Đoạn hai gồm hai câu : “ Cửa của Huyền Tẫn” ( Nơi ra vào, hoạt động của Âm Dương) là gốc rễ của vạn vật.

Đoạn ba gồm hai câu cuối : Nói về sự bất tử của những điều trên.

 

TỔNG LUẬN 
Chương 8, ĐĐK nói về sự tồn tại vĩnh viễn của vũ trụ

 

CHƯƠNG 9
 
HÁN VĂN
 
Tam thập phúc cộng nhứt cốc
Đương kỳ vô hữu xa chi dụng
 
Duyên thực dĩ vi khí
Đương kỳ vô hữu khí chi dụng
 
Tạc hộ dũ dĩ vi thất
Đương kỳ vô hữu thất chi dụng
 
Cố
 
Hữu chi dĩ vi lợi
Vô chi dĩ vi dụng
DỊCH NGHĨA
Ba chục căm, hợp lại một bầu,
Nhưng chỗ “không” mới có cái “dụng” của xe
 
Nhồi đất để làm chén bát
Nhờ chỗ “không” mới có cái “dụng” của chén bát
 
Khoét cửa nẻo, làm buồng the
Nhờ chỗ “không” mới có cái “dụng” của buồng the
 
                                                Bởi vậy
Lấy cái “có” để làm cái lợi
Lấy cái “không” để làm cái dụng
 
BÌNH CHÚ
 
Chương này lấy ba ví dụ là  các vật thường thấy trong đời sống hàng ngày: Bánh xe, chén bát, cửa nẻo. Chúng ta vẫn thường dùng các vật theo công dụng của nó, nhưng chúng ta thường chỉ chú ý tới phần vật chất mà không quan tâm lắm đến phần “phi vật chất”. ĐĐK nhấn mạnh đến chỗ dùng của nó, chính là phần “phi vật chất”, là phần không gian trống không trong bánh xe, trong chén bát, trong cửa nẻo…Vậy nên :Lấy cái “có” để làm cái lợi, lấy cái “không” để làm cái dụng. 

 
TỔNG LUẬN 
 
Chương 9 nói về sự “diệu dụng” của cái KHÔNG .
 
CHƯƠNG 10
HÁN VĂN
 
Thị chi bất kiến danh viết “Di”
Thính chi bất văn danh viết “Hi”
Bác chi bất đắc danh viết “Vi”
Thử tam giả bất khả trí cật
Cố hỗn nhi vi nhất
 
Kỳ thượng bất kiểu
Kỳ hạ bất muội
           Thằng thằng bất khả danh
              Phục quy ư vô vật
           Thị vị vô trạng chi trạng
Vô vật chi tượng
Thị vị hốt hoảng
                Nghinh chi bất kiến kỳ thủ
       Tuỳ chi bất kiến kỳ hậu
 
Chấp cổ chi đạo
Dĩ ngự kim chi hữu
                        Năng tri cổ thuỷ
                    Thị vị đạo kỷ
DỊCH NGHĨA
Xem mà không thấy nên gọi là “Di”
Lóng mà không nghe nên tên gọi là “Hi”
Bắt mà không nắm nên gọi là “Vi”
Ba cái ấy không thể phân ra được
Vì nó hỗn hợp làm một
 
Trên nó thì không sáng
Dưới nó thì không tối
Dài dằng dặc mà không có tên
Rồi lại trở về chỗ không có
Ấy gọi là cái hình trạng không hình trạng
      Cái hình trạng của cái không có vật.
Ấy gọi là “hốt hoảng”
Đón nó thì không thấy đầu
   Theo nó thì không thấy đuôi
 
Giữ cái đạo xưa
Để trị cái “có” hiện nay
             Biết được cái nguyên thuỷ ngày xưa
      Ấy gọi là nắm được giềng mối của Đạo
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Xem mà không thấy…Vì nó hỗn hợp làm Một” : Đoạn này bàn về bản thể của Đạo (hay Vũ Trụ). Ba chữ “Di, Hi, Vi” (Di: không màu sắc, Hi: Không âm thanh, Vi: không hình dáng) chỉ là gượng dùng để chỉ sự cực kỳ thâm sâu, cực kỳ vi tế của bản thể vũ trụ, điều mà con người không thể dùng giác quan bình thường để nhận biết.

Đoạn hai : “Trên nó thì không sáng…Theo nó thì không thấy đuôi”: Mô tả hình “hình trạng” vũ trụ là “hoảng hốt” mờ mờ ảo ảo, tợ hữu tợ vô, khi có khi không, vận hành thì theo chu kỳ bất tận (không thấy đầu, không thấy cuối)

Đoạn ba : “Giữ cái Đạo xưa….giềng mối của Đạo” Dùng cái biết về Chân Lý từ muôn đời xưa để ứng dụng vào cuộc sống ngày nay.

 

TỔNG LUẬN
 
Chương 10 tổng kết lại những điều đã nói về ĐẠO của các chương trên, mục đích là muốn dùng cái biết ấy để ứng dụng vào đời sống thực tế.

 

 B.   ỨNG DỤNG QUY LUẬT TỰ NHIÊN

 
  CHƯƠNG 11
 HÁN VĂN
Thượng sĩ văn Đạo
Cần nhi hành chi
Trung sĩ văn Đạo
Nhược tồn nhược vong
Hạ sĩ văn Đạo
Đại tiếu chi
             Bất tiếu bất túc dĩ vi Đạo
 
                   Cố, kiến ngôn hữu chi
Minh Đạo nhược muội
Tiến Đạo nhược thối
Di đạo nhược lội
        Thượng đức nhược cốc
      Đại bạch nhược nhục
Quảng Đức nhược bất túc
            Kiến Đức nhược thu
      Chất chân nhược du
 
Đại phương vô ngung
Đại khí vãn thành
Đại âm hi thanh
Đại tượng vô hình
Đạo ẩn vô danh
         Phù duy Đạo
   Thiện thải thả thành
 
DỊCH NGHĨA
Thượng Sĩ nghe Đạo
Cố gắng theo liền
Trung Sĩ nghe Đạo
Thoạt nhớ thoạt quên
Hạ sĩ nghe Đạo
Cả cười, bỏ qua
Nếu không cười, sao đủ gọi đó là Đạo
 
Nên  chi
Người xưa nói
Sáng về Đạo, dường tăm tối
Tiến về Đạo, dường thối lui
Ngang với Đạo, dường tầm thường
Đức mà cao, dường trũng thấp
Thật trong trắng, dường bợn nhơ
Đức dồi dào, dường không đủ
Đức vững chắc, dường cẩu thả
Kẻ chân chất, dường biến đổi
 
Vuông lớn, không góc
Chậu lớn, muộn thành
Âm lớn ít tiếng
Tượng lớn không hình
Đạo kín không tên
Chỉ có Đạo
Hay cho, lại tác thành
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Thượng sĩ nghe Đạo….Sao đủ gọi đó là Đạo”. Từ Thượng Sĩ chỉ cho bậc Đại trí, Trung sĩ : Người có trí tuệ trung bình, Hạ sĩ :Kẻ ngu si, dốt nát. Ý của đoạn này là Chỉ có kẻ trí tuệ thâm sâu mới có thể hiểu được Đạo và cố gắng sống theo. Kẻ Sĩ hạng trung thì hiểu được ít nhiều,  nghe theo chút ít,  khi được khi không. Kẻ ngu si thì không hiểu, không tin Đạo, có thể còn cười nhạo. Nếu kẻ ngu có thể hiểu được Đạo thì đó đâu còn phải là Đạo nữa.

Đoạn hai : “Nên chi…Kẻ chơn chất dường biến đổi” Đoạn này nói đến cái lý khó hiểu đối với người bình thường. Cái gì chậy quá về cực này thì lại có vẻ như quay về cái ngược lại. Trong quá trình tiến hoá từ thấp lên cao. Kẻ ở quá cao ngoài tầm nhìn của mọi người thì người ta lại lầm tưởng là người quá thấp.  Quá tốt lại “có vẻ dường như” xấu…Nguyên lý này chỉ có những bậc cao minh mới biết và chỉ có con người rõ về Đạo mới phân biệt được đâu là “cái xấu” và đâu là cái quá tốt nhưng “có vẻ như, dường như” xấu. Ví dụ :  chữ của kẻ mới tập viết, ít học và của người học cao, học nhiều, đôi khi đều xấu. Chỉ có kẻ rành về chữ viết mới phân biệt được.

Đoạn ba : “Vuông lớn không góc…Hay cho, lại tác thành” Tiếp tục cái nguyên lý của đoạn hai, những gì quá lớn, quá cao siêu, vượt ra ngoài cảm nhận của giác quan, hoặc vượt lên trên nhận thức thông thường thì người ta khó có thể nhận biết và đánh giá sai lầm. Ví dụ như siêu âm và ngoại âm, vì không nghe được người ta tưởng là không có âm thanh.

Đạo là Chân lý tuyệt đối vĩ đại, sâu kín, huyền  không thể lấy cái trí hiểu biết thông thường mà  nắm bắt được. 

  TỔNG LUẬN

 Chương 11 nhấn mạnh về tính chất cao siêu, huyền bí thâm sâu vi diệu của Đạo. Chỉ có người trí tuệ lớn mới có thể hiểu được. Đối với những điều, những việc quá cao xa vĩ đại, vượt khỏi tầm nhìn, hoặc hiểu biết thông thường, người ta khó có thể phán đoán chính xác. Đạo là chân lý cao xa, vi tế, bí nhiệm nhất trên đời, nên người đời không dễ hiểu thấu. 

 

CHƯƠNG 12

HÁN VĂN
Đại thành nhược khuyết
Kỳ dụng bất tệ
Đại doanh nhược xung
Kỳ dụng bất cùng
Đại trực nhược khuất
Đại xảo nhược chuyết
Đại biện nhược nột
 
Táo thắng hàn
Tịnh thắng nhiệt
Thanh tịnh vi thiên hạ chính
DỊCH NGHĨA
Thành tựu mỹ mãn dường như dở dang
Thì chỗ dùng của nó không hư được
Đầy tràn dường như trống không
Thì chỗ dùng của nó vô cùng
Rất ngay thẳng dường như cong queo
Rất khéo léo dường như vụng về
Rất hùng biện dường như ấp úng
 
Nóng nảy thắng lạnh lẽo
Yên lặng thắng hăng hái
 
Thanh tịnh mới chính được thiên hạ
 
BÌNH CHÚ
Đoạn một : “Thành tựu mỹ mãn…dường như ấp úng” Chương 12 tiếp theo ý của chương 11. Nguyên lý “Cực điểm của cái này có vẻ (giống), dường như cái ngược lại với nó”. Nguyên lý này có tính năng là bảo toàn được sự thành tựu của nó. Ví dụ: Đầy tràn dường như trống không. Rất hùng biện dường như ấp úng v.v…Lên đỉnh mà không lộ ra vẻ lên đỉnh thì mới trụ được đỉnh, vì phàm cái gì lên đến cao nhất thì phải tuột dốc.

Đoạn hai : “Nóng nảy thắng lạnh lẽo, Yên lặng thắng hăng hái”

Khi sự việc quá dương hoặc quá âm (quá tích cực hoặc tiêu cực), ta phải lấy cái cái mâu thuẫn với nó để trung hoà nó để đạt đến tình trạng ổn định.

Đoạn ba : “Thanh tịnh mới chính được thiên hạ”. Thanh Tịnh ở đây có nghĩa là “ Vô Vi” : ý nói (đừng xen vào) hãy sống thuận  theo các Quy Luật Tự Nhiên đang điều hành vũ trụ mà điều hành con người thì việc cai trị thiên hạ mới thành công.   

  TỔNG LUẬN
 
Chương 12 tiếp ý chương 11, cho rằng dù mọi việc tiến bộ đến đỉnh điểm, nhưng vẫn khéo léo không để lộ ra vị trí “đỉnh điểm” của mình thì mới được an toàn và lâu dài. Muốn ổn định thì phải giữ mọi việc ở thế quân bình và dùng Vô Vi mà hành xử.  

CHƯƠNG 13
     
HÁN VĂN
 
Thiện kiến giả bất bạt
Thiện bão giả bất thoát
Tử tôn dĩ tế tự bất chuyết
 
Tu chi ư thân
Kỳ đức nãi chân
Tu chi ư gia
Kỳ đức nãi dư
Tu chi ư hương
Kỳ đức nãi trường
Tu chi ư quốc
Kỳ đức nãi phong
Tu chi ư thiên hạ
Kỳ đức nãi phổ
 
CỐ
 
Dĩ thân quan thân
    Dĩ gia quan gia
Dĩ hương quan hương
                                Dĩ quốc quan quốc
Dĩ thiên hạ quan thiên hạ
Ngô hà dĩ tri thiên hạ nhiên tai ?
Dĩ thử
DỊCH NGHĨA
Cắm thật chặt thì không nhổ lên được
Ôm thật chặt thì không sút ra được
Con cháu tế tự không dứt
 
Nếu lấy Đạo mà tu thân
Thì Đức ấy chân chính
Nếu lấy Đạo mà lo việc nhà
Thì Đức ấy có dư
Nếu lấy đạo mà lo cho làng xóm
Thì Đức ấy mới lâu bền
Nếu lấy Đạo mà lo cho nước
Thì Đức ấy mới  hưng thịnh
Nếu lấy Đạo mà lo cho thiên hạ
Thì Đức ấy mới rộng khắp
 
Nên chi
 
Lấy thân mà quán xét thân
Lấy nhà mà quán xét nhà
Lấy làng mà quán xét làng
Lấy nước mà quán xét nước
Lấy thiên hạ mà quán xét thiên hạ
 
Ta làm sao biết được việc thiên hạ như thế
                     Thì lấy chỗ đó
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Cắm thật chặt…con cháu tế tự không dứt”. Phàm điều gì mình đã đã làm cẩn thận và đầu tư lâu dài cho việc ấy, thì hậu quả của nó sẽ lâu dài. Nếu ta sống một đời vì mọi người không mệt mỏi, thì thế hệ hậu sinh sẽ luôn tưởng nhớ đến công đức của ta.

Đoạn hai : “ Nếu lấy Đạo mà tu thân…Thì Đức ấy mới rộng”. Đoạn này nói đến sự ứng dụng của Đạo (Vô Vi, sống theo luật tự nhiên)vào các việc Tu thân, lo việc gia đình, làng xóm, nước non, thiên hạ, đem lại những hiệu quả tốt đẹp lâu dài.

Đoạn ba : “Nên chi…Lấy thiên hạ mà xét thiên hạ”. “Lấy thân mà xét thân” có nghĩa là: lấy luật tự nhiên điều hành, chi phối bản thân mình để xét lấy mình mà cư xử cho phù hợp với luật tự nhiên ấy. Tương tự đối với gia đình, xóm làng, đất nước, thiên hạ cũng phải đều như vậy cả.

Đoạn bốn : Hai câu cuối : Sở dĩ tác giả biết được việc thiên hạ (đúng, sai, hay, dở) thế nào đều là do lấy Luật Tự Nhiên làm tiêu chuẩn mà xét cả.

 
  TỔNG LUẬN
Chương 13 ý nói nếu ta sống hết lòng hết sức vì một điều gì đó thì ta sẽ gặt hái kết quả tương ứng. Nếu dùng Vô Vi mà tu thân và ứng xử trong mọi quan hệ ở đời thì hậu quả là sự tốt đẹp vững bền.Hãy lấy quy luật tự nhiên làm chuẩn mực để xét về bản thân và các mối quan hệ khác. Tác giả sở dĩ có thể đánh giá chuyện hay dở của thiên hạ cũng là nhờ như thế.

 

CHƯƠNG 14
                             
                                HÁN VĂN
 
Hy ngôn tự nhiên
CỐ
Phiêu phong bất chung triêu
     Sậu vũ bất chung nhật
Thục vi thử giả
             Thiên Địa
Thiên địa thượng bất năng cửu
      Nhi huống ư nhơn hồ
 
Cố
Tùng sự ư đạo giả
                       Đạo giả đồng ư Đạo
            Đức giả đồng ư Đức
            Thất giả đồng ư thất
Đồng ư Đạo giả
        Đạo diệc lạc đắc chi
Đồng ư Đức giả
            Đức diệc lạc đắc chi
Đồng ư thất giả
       Thất diệc lạc đắc chi
Tín bất túc yên
          Hữu bất tín yên
 
DỊCH NGHĨA
Ít nói, để cho tự nhiên
                                Bởi vậy
          Gió lốc không thổi suốt một buổi mai
     Mưa rào không mưa suốt một ngày trường
                   Ai làm nên mưa gió ấy ?
                             Trời đất
                Việc trời đất còn không thể lâu
                     Huống chi là việc của người
 
                                                      Vậy nên
Theo Đạo thì đồng với Đạo
Theo Đức thì đồng với Đức
Theo Mất (Đức), thì đồng với Mất (Đức)
Đồng với Đạo, Đạo cũng vui tiếp đó
Đồng với Đức, Đức cũng vui tiếp đó
Đồng với Mất, Mất cũng vui tiếp đó
 
Tin mà không đủ
Thì không phải là tin
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một: “Ít nói, để cho tự nhiên” có nghĩa : Trong cuộc sống đôi khi ta cũng can thiệp đôi chút vào tự nhiên (nhưng không xâm phạm đến quy luật tự nhiên) ví dụ ta có thể khai thông kênh rạch, làm nhà cửa, trồng trọt cây trái v.v…nhưng ta tôn trọng những gì vốn có của tự nhiên và tôn trọng những quy luật tác động lên vạn vật.

Đoạn hai : “Gió lốc không thổi…việc của người” Quy luật vô thường trong tự nhiên : Tất cả đều biến đổi theo thời gian

Đoạn ba : “Vậy nên… vui tiếp đó” Nhân-Quả là luật hiển nhiên trong trời đất. Hành động (nhân) thế nào thì nhận lại phản ứng của hành động (quả) như thế ấy.

Đoạn bốn : Nếu người nghe Đạo, bán tín bán nghi, khi theo khi bỏ thì đó không phải là người theo Đạo.

 

  TỔNG LUẬN
 
Chương 14 nói rằng : Sống là nên hành động theo nhu cầu và sở thích của mình một cách hạn chế, sao cho không xâm hại đến tự nhiên và những quy luật của nó. Vô thường và Nhân Quả ấy là luật của Trời Đất. Người theo Đạo mà bán tín bán nghi thì không phải là theo Đạo.

 
CHƯƠNG 15
 
HÁN VĂN
 
Hàm đức chi hậu
      Tỷ ư xích tử
                    Độc trùng bất thích
                  Mãnh thú bất cứ
                   Cược điểu bất bác
 
Cốt nhược cân nhu nhi ác cố
Vị tri tẩn mẫu chi hợp nhi toàn tác
Tinh chi chí dã
Chung nhật hào nhi bất sá
Hoà chi chí dã
Tri Hoà viết Thường
Tri Thường viết Minh
 
Ích sanh viết Tường
Tâm sử khí viết Cường
Vật tráng tắc lão
         Vị chi bất Đạo
    Bất Đạo tảo dĩ
 
DỊCH NGHĨA
Kẻ mà Đức dầy
Giống như con đỏ
Độc trùng không cắn
Thú dữ không ăn
Ác điểu không xớt
 
Xương yếu gân mềm
Tay nắm cứng khư
Chưa biết giao hợp
Tinh khí có dư
Suốt ngày hét vang
Mà tiếng không khan
Hoà hợp hoàn toàn
Biết “Hoà” gọi là “Thường”
Biết “Thường” gọi là “Minh”
 
Lợi cho sự sống là điều tốt
Tâm động , khí nghịch là “Mạnh”
                                        Vật mạnh lớn thì già
                                                      Đó là nghịch Đạo
Nghịch Đạo chết sớm
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Kẻ mà Đức đầy…Ác điểu không xớt” Người mà Đức đầy đủ thì luôn làm việc tốt lành cho mọi người mọi vật. Người không hề biết làm hại người nào vật nào, thiện lành như đứa trẻ mới sanh thì dù họ gặp các loài độc ác đến đâu cũng không con nào làm hại họ (vì “thiện giả, thiện báo” vậy)

Đoạn hai : “xương yếu, gân mềm…hoà hợp hoàn toàn”. “Xương yếu gân mềm. Tay nắm khư khư” Dùng mềm yếu nhu nhược thì có thể giữ vững mọi sự. “Chưa biết giao hợp. Tinh khí có dư” Người trong trắng ngay thẳng, chưa hề nghĩ đến mưu ma chước quỷ, thì chính khí tràn đầy. “Suốt ngày hét vang.  Mà tiếng không khan” Tâm không động loạn thì dù có la hét suốt ngày cũng không mệt mỏi hay khan tiếng. “Hoà hợp hoàn toàn” . Tất cả những trạng thái nêu trên đều phù hợp với Đạo.

Biết ‘Hoà’ gọi là ‘Thường’” Biết hoà hợp với Đạo gọi là đến được chỗ “chân thường” (bất biến, không thay đổi). “Biết ‘thường’ gọi là ‘minh’”. Biết được “chân thường”  là “minh” (sáng suốt, trí tuệ).

Đoạn ba : “Lợi cho sự sống là điều tốt” Việc làm có ích lợi cho sự sống của người và vật là điều tốt lành. “Tâm động, khí nghịch là mạnh”. Tâm dao động khiến khí vượng lên gọi là “mạnh”. Vật mạnh lớn thì già (già thì phải chết). Nếu muốn tồn tại thì như vậy là nghịch với Đạo, nên phải chết sớm vậy.

 
  TỔNG LUẬN
 
Chương 15 bàn rằng : Kẻ đủ Đức thì thánh thiện như trẻ mới sinh, dẫu có gặp độc trùng ác thú cũng không bị xâm hại. Muốn giữ điều gì bền lâu thì phải dụng tánh nhu hoà, nhẫn nhục. Người mà tâm hồn trong sáng, an tịnh thì hợp với Đạo. Hợp với Đạo là đến được chỗ “Chân thường”, là Trí tuệ vậy

. 

 

CHƯƠNG 16
HÁN VĂN
 
Thiên hạ hữu thuỷ
Dĩ vi thiên hạ mẫu
 
Ký đắc kỳ mẫu
Dĩ tri kỳ tử
Ký tri kỳ tử
Phục thủ kỳ mẫu
Một thân bất đãi
 
Tắc kỳ đoài
Bế kỳ môn
Chung thân bất cần
Khai kỳ đoài
Tế kỳ sự
Chung thân bất cứu
 
Kiến tiểu viết Minh
Thủ nhu viết Cường
Dụng kỳ Quang
Phục quy kỳ minh
Vô di thân ương
Thị vi tập thường
 
DỊCH NGHĨA
 
Thiên hạ có nguồn gốc
Dùng làm mẹ của thiên hạ
 
Hễ giữ được Mẹ
Thì biết được Con
Đã biết được con
Trở về giữ mẹ
Thân đến chết không nguy
 
Ngậm miệng lại
Lấp tai lại
Suốt đời không lao nhọc
Mở miệng ra
Bao biện việc
Suốt đời không cứu được
 
Thấy được chỗ tế vi là Sáng
Giữ được mềm yếu là Mạnh
Dùng cái Sáng của Đạo
Trở về cõi Sáng của mình
Thân không sợ tai ương
Đó gọi là Sáng gấp hai.
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một: “Thiên hạ…của thiên hạ” Hai câu đầu ý nói bản thể vũ trụ là nguồn gốc phát sinh vạn vật.

Đoạn hai : “ Hễ giữ…không nguy”: Biết được nguồn gốc thì biết được ngọn, biết nguyên lý vũ trụ thì có thể ứng dụng vào đời sống cụ thể. Sống thuận Đạo như thế thì đến chết không gặp nguy hiểm.

Đoạn ba :”Ngậm miệng….cứu được” Sống thuận theo tự nhiên (vô vi) không chen vào để sửa đổi luật tự nhiên (hữu vi) thì suốt không lao nhọc. Nhược bằng sống theo kiểu “hữu vi”thì suốt đời khó khăn không cứu được.

Đoạn bốn : “ Thấy được…gấp hai” . Đoạn này nhấn mạnh hai điều quan trọng : Một là hiểu được sự thậm thâm vi tế  của Đạo, hai là ứng xử theo cách tiêu cực, mềm yếu, nhu thuận (là chủ yếu). Biết được Đạo để xét mình và điều chỉnh mình cho phù hợp là sáng gấp hai. Như vậy không sợ gặp tai ương.

  

  TỔNG LUẬN

 
Chương 16 chủ yếu nhắc lại vai trò quan trọng của bản thể vũ trụ. Những nguyên tắc sống cơ bản và quan trọng nhất là : Ứng dụng sự hiểu biết các quy luật tự nhiên vào đời sống (đó là Vô Vi) và hành xử chủ yếu là dùng sự nhu thuận, mềm dẻo (Âm tính)

                                          

CHƯƠNG 17
 
HÁN VĂN
 
Thiên chi Đạo, kỳ du trương cung dư ?
Cao giả ức chi
Hạ giả cử chi
Hữu dư giả tổn chi
Bất túc giả bổ  chi
Thiên chi Đạo
Tổn hữu dư nhi bổ bất túc
 
Nhơn chi đạo tắc bất nhiên
Tổn bất túc dĩ phụng hữu dư
Thục năng hữu dư dĩ phụng thiên hạ ?
 Duy hữu Đạo giả
 
Thị dĩ thánh nhơn
Vi nhi bất thị
Công thành nhi bất xử
Kỳ bất dục kiến hiền
                  
   DỊCH NGHĨA
 
Đạo Trời ư ? Khác nào cây cung giương lên
Chỗ cao thì ép xuống
Chỗ thấp thì nâng lên
Có dư thì bớt đi
Không đủ thì bù vào
Đạo của Trời
Bớt chỗ dư mà bù chỗ thiếu
 
Đạo của người thì không vậy
Bớt chỗ thiếu để đắp thêm cho chỗ dư
Ai đâu có dư để bù cho thiên hạ
Nếu không phải là kẻ đã được Đạo !
 
Bởi vậy Thánh nhơn
   Làm mà không cậy công
Công thành rồi không ở lại
    Không muốn ai thấy tài hiền của mình
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Đạo Trời ư ?...chỗ thiếu” (Đạo Trời chính là quy luật tự nhiên) Theo “Đạo Trời” thì luôn có sự san xẻ cho đồng đều để tạo thế “quân bình Âm-Dương” (quân bình giữa tính Tích Cực và Tiêu Cực) CÔNG BÌNH là đạo lý lớn nhất của vũ trụ.

Đoạn hai : “Đạo của người…kẻ đã được Đạo !” Con người vì lòng tham lam tư lợi, đã hành xử ngược lại với luật Công Bình của Trời Đất. Chỉ có người hiểu Đạo Trời mới sống đúng mà thôi.

Đoạn ba : “Bởi vậy…tài hiền của mình”  Những bậc có Trí Đức, làm việc phụng sự hy sinh cho người,cho đời. Khi xong việc, tự bỏ danh lợi mà ra đi, không cần cho ai biết tài đức của mình cũng chẳng cần cầu mong sự đền đáp.  

 
  TỔNG LUẬN
 
Đạo Trời quan trọng nhất ở chỗ Công Bình, nhưng con người vì tư lợi đã phá vỡ nó. Thánh nhân hiểu đạo, sống một đời tận tuỵ hy sinh vì tha nhân mà không cầu danh lợi. Xong việc, tự bỏ ra đi.

 

 

 

CHƯƠNG 18
 
HÁN VĂN
Tích chi đắc Nhất giả
Thiên đắc Nhất dĩ thanh
Địa đắc Nhất dĩ ninh
Thần đắc Nhất dĩ linh
Cốc đắc Nhất dĩ doanh
Vạn vật đắc Nhất dĩ sinh
Hầu Vương đắc Nhất dĩ vi thiên hạ trinh
 Kỳ trí chi Nhất dã
 
Thiên vô dĩ thanh tương khủng liệt
   Địa vô dĩ ninh tương khủng phế
Thần vô dĩ linh tương khủng hiệt
Cốc vô dĩ doanh tương khủng kiệt
Vạn vật vô dĩ sanh tương khủng diệt
 Hầu Vương vô quý cao tương khủng quyết
Cố
Quý dĩ tiện vi bổn
Cao dĩ hạ vi cơ
    Thị dĩ Hầu Vương tự vị cô quả bất cốc
Thị kỳ dĩ tiện vi bổn da ?     Phi hồ   ?
 
Cố
Trí số dự vô dự
      Bất dục
  Lục lục như ngọc
Lạc lạc như  thạch
 
   DỊCH NGHĨA
 
Đây là những vật xưa kia đã được ngôi “Một”
Trời được Một mà trong
Đất được Một mà yên
Thần được Một mà linh
Hang được Một mà đầy
Muôn vật được Một mà sống
Hầu Vương được Một mà trị thiên hạ
Đều là đến được chỗ Một mà nên cả
Nếu trời không trong sẽ vỡ
Đất không yên sẽ lở
Hang không đầy sẽ cạn
Thần không linh sẽ tán
Vạn vật không sinh sôi sẽ diệt
Hầu Vương không cao quý sẽ tuyệt
 
Bởi vậy
 
Quý lấy Tiện làm gốc
Cao lấy thấp làm nền
Nên chi
Hầu Vương tự xưng là  “con côi”  “ít đức” “không lành”
Như vậy là lấy “tiện” làm gốc  không ?
  Không phải vậy sao  ?
 
Vậy, quá khen thành như không khen
(Bậc thánh nhơn) không muốn
   Được quý như ngọc
Bị khinh như sỏi
 
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Đây là… sẽ tuyệt” . Khái niệm “ngôi Một” trong đoạn kinh văn này có nghĩa là có nghĩa là nhận thức bình đẳng (giữa Âm và Dương, Tiêu Cực và Tích Cực, Xấu và Tốt…) Do không có tâm phân biệt (chia hai) như thế nên mới tạo được thế quân bình trong tất cả mọi sự vật, sự việc để mọi vật, mọi việc được trường tồn.

Đoạn hai : “Bởi vậy… Không phải vậy sao ?” Quy luật tự nhiên :Âm Dương phải nương tựa nhau mới có thể tồn tại và phát triển. (Từ “Hầu Vương” dùng ở đây để ám chỉ cho các nhà cai trị sáng suốt)

Đoạn ba : “Vậy, quá khen… như sỏi” Các bậc hiền đức không muốn đối xử và bị đối xử với “tâm phân biệt” (chia hai) hoặc quá khinh hoặc quá trọng.

 
  TỔNG LUẬN
 
Quy luật Tự nhiên của Vạn Vật là Công Bình. Công Bình chỉ được thực hiện khi có sự bình đẳng không phân biệt đối với mọi sự, mọi vật.

 
CHƯƠNG 19
HÁN VĂN
 
Xuất sanh nhập tử
Sanh chi đồ thập hữu tam
Tử chi đồ thập hữu tam
Nhơn chi sanh
Động chi tử địa diệc thập hữu tam
Phù hà cố ?
Dĩ kỳ sanh sanhchi hậu
 
Cái văn thiện nhiếp sinh giả
Lục hành bất ngộ tỷ hổ
Nhập quân bất bị giáp binh
Tỷ vô sở đầu kỳ giác
Hổ vô sở thố kỳ trảo
Binh vô sở dung kỳ nhẫn
Phù hà cố ?
Dĩ kỳ vô tử địa
 
   DỊCH NGHĨA
Ra sống mà vào chết
 
Đường của Sống có mười ba
Đường của Chết có mười ba
    Cái Sống của con người
  Đi tới chỗ chết cũng có mười ba
Cớ sao vậy ?
Vì quá lo tận sống cái sống của mình
 
Ai biết cái đạo nhiếp sinh
  Đi đường không gặp thú dữ
Vào trận không bị đao thương
          Tê không chỗ đâm
          Cọp không chỗ vấu
         Đao không chỗ phạm
Cớ sao vậy ?
Tại không có chỗ chết
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Ra sống mà Vào chết” . Động từ “Ra” chỉ cho sự ra đời từ lòng Mẹ. “Vào” chỉ cho sự vào quan tài để về cùng cát bụi.

Đoạn hai : “Đường của sống…của mình”. “Đường của Sống có mười ba. Đường của Chết có mười ba”. Mười Ba Điều để sống còn (Đạo Sống) là : Hư (trống) Vô (không) Thanh ( trong, sạch) Tịnh (yên, tĩnh) nhu (mềm) nhược (yếu) từ (thương yêu) kiệm (chi vừa đủ) bất cảm vi thiên hạ tiên ( không dám hành xử ưu tiên hơn thiên hạ) tri túc (biết đủ) tri chỉ ( biết dừng lại đúng lúc) bất dục đắc ( không tham muốn những điều không phải của mình hoặc ngoài năng lực mình có thể kiếm được) . Ngược lại với mười ba điều này là con đường dẫn đến cái chết. Con người vì qúa ham sống mà lại không biết cách để duy trì sự sống nên đã làm ngược lại.

(Sách của Thu Giang Nguyễn Duy Cần viết

"Theo Hàn Phi Tử  thì Thập hữu tam đây là chỉ về “tứ chi, cửu khiếu” của thân thể. Và vì thế mới có bày ra cái đạo “nhiếp sinh” (dưỡng sinh) và “trường sinh cửu thị” của Đạo gia về sau ".)

Đoạn ba : “Ai biết…chỗ chết” . Nếu ai hiểu rõ và thực hiện Mười Ba con đường sống trong đời mình thì trọn đời không gặp nguy hiểm vì “không có chỗ chết” vậy.

 
  TỔNG LUẬN
 
Chương này nêu rõ vấn đề “Sanh Tử sự đại” của con người. Đạo Sống gồm có mười ba điều. Đi ngược lại mười ba điều này là bước vào cửa Tử. Đây là một trong những chương quan trọng chủ yếu của Đạo Đức Kinh.

 
CHƯƠNG 20
 
HÁN VĂN
 
Thiên hạ giai vị ngã Đạo đại
Tự bất tiếu
      Phù duy đại
Cố
Tự bất tiếu
Nhược tiếu cửu hỹ
Kỳ tế dã phù !
 
Ngã hữu tam bửu
   Trì nhi bảo chi
 Nhất viết Từ
Nhị viết Kiệm
Tam viết bất cảm vi thiên hạ tiên
            Từ cố năng Dũng
           Kiệm cố năng Quảng
   Bất cảm vi thiên hạ tiên
 Cố năng thành khí trưởng
 
Kim xá Từ thả Dũng
 Xá Kiệm thả Quảng
 Xá Hậu thả Tiên
Tử hỹ
 
Phù từ dĩ chiến tắc thắng
  Dĩ thủ tắc cố
Thiên tướng cứu chi
   Dĩ từ vệ chi
   DỊCH NGHĨA
 
Thiên hạ đều gọi Đạo ta là lớn
Vì đạo ta không thể cười chê được
       Nên nó thật sự lớn    
 
Ta có ba vật báu, hằng nắm giữ và ôm ấp
Một là  “Từ”
Hai là  “Kiệm”
Ba là  “ Không dám đứng trước thiên hạ”
Từ mới có Dũng
Kiệm mới có Rộng
Không dám đứng trước thiên hạ  thì được Ngôi cao
 
Nay, nếu bỏ Từ để được Dũng
          Bỏ Kiệm để được Rộng
Bỏ Sau để đứng Trước
Là Chết vậy !
 
Lấy Từ mà tranh đấu thì thắng
Lấy Từ mà cố thủ thì vững
Trời muốn cứu ai
    Lấy Từ mà giúp đó
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Thiên hạ…sự lớn” Đạo được nêu lên trong Đạo Đức Kinh là Đạo. Vì là Đạo lớn nên cao xa huyền nhiệm khó hiểu, kẻ thiếu trí không thể nào biết được, nên cả cười mà bỏ qua “Hạ sĩ văn Đạo, Đại tiếu chi”. Nếu kẻ thiếu trí hiểu được, không cười nhạo thì đó không xứng đáng là (đại) Đạo “ Bất tiếu, bất túc dĩ vi Đạo” (Chương 11).Vì Đạo (của Lão Tử) không bị những bậc Đại Trí chê cười nên nó thật sự là Đạo Lớn.

Đoạn hai : “Ta có …ngôi cao” Đoạn này ý nhắc lại Mười Ba con đường sống của chương 20, trong đó có ba điều quan trọng, một là Từ (yêu thương), hai là Kiệm (chi tiêu đúng mực) và ba là Không Dám “Đứng” Trước Thiên Hạ (không kiêu căng, tự thị, hưởng ưu tiên trước và trên thiên hạ). Vì có Từ (yêu thương) thì mới có Dũng (can Đảm). Có “Kiệm” (chi đúng mực) thì mới(có dư) để có thể Quảng (rộng rãi).Không dám “đứng” trước thiên hạ nên mới được ngôi cao.

Đoạn ba : “Nay, nếu bỏ Từ…là chết vậy”. Nếu làm ngược lại ba điều ấy thì chỉ có chết mà thôi.

Đoạn bốn : “Lấy Từ…giúp đó” . Đoạn này nêu lên tính ưu việt của lòng Từ (yêu thương). Ngay cả Đạo Trời cũng lấy “Từ” mà cứu giúp người.

 
  TỔNG LUẬN
 

Trong Mười Ba đường sống thì có ba điều được nhấn mạnh, đó là Từ, Kiệm và Bất Cảm Vi Thiên Hạ Tiên, vì những hệ quả tốt đẹp và quan trọng mà nó mang lại, nhất là lòng Từ. 

CHƯƠNG 21
 
HÁN VĂN
 
Dũng ư cảm tắc sát
Dũng ư bất cảm tắc hoạt
Thử lưỡng giả hoặc lợi hoặc hại
 
Thiên chi sở ố
Thục tri kỳ cố
Thị dĩ Thánh nhơn do nan chi
 
Thiên chi Đạo
Bất tranh nhi thiện thắng
  Bất ngôn nhi thiện ứng
     Bất triệu nhi tự lai
Xiển nhiên thiện mưu
 
Thiên võng khôi khôi
Sơ nhi bất thất
 
   DỊCH NGHĨA
 
Cái Dũng của sự dám làm thì Chết
Cái Dũng của sự không dám làm thì Sống
      Hai cái đó, hoặc có lợi, hoặc có hại
 
Cái chỗ ghét của Trời
Ai hay được duyên cớ ?
Bậc Thánh cũng vấp chỗ khó đó !
Đạo của Trời
Không tranh mà lại thắng
Không nói mà có kẻ nghe
Không gọi mà tự đến
Thong thả mà xong việc
 
Lưới trời lồng lộng
Thưa mà chẳng lọt
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Cái dũng….hoặc có hại”. Từ “làm” ở đây được hiểu là “hữu vi” và “không làm” là “vô vi”. Nếu can đảm mà làm kiểu “hữu vi” thì chết. Nhưng can đảm làm theo kiểu “vô vi” thì sống. “Hữu vi” là làm ngược với tự nhiên, còn “vô vi” thì thuận theo tự nhiên mà làm. Nên Vô Vi không có nghĩa là không làm gì, mà “Vô Vi nhi Vô Bất Vi”  (Không làm mà không gì là không làm).

Đoạn hai : “Cái chỗ ghét …chỗ khó đó”. “Chỗ ghét” của Trời là cái “Cực Đoan”. sự thái quá hay bất cập sẽ làm mất quân bình âm dương và dẫn đến  tiêu vong. Vì vậy, sự điều hoà Âm Dương (Tiêu cực và Tích Cực) chính là TRUNG ĐẠO. Giữ được Trung Đạo là điều rất khó, ngay cả đối với bậc Thánh Nhân cũng vậy. (Thánh Nhân hiểu Đạo nhưng để thực hiện được Trung Đạo cũng cần có thời gian tu luyện).

Đoạn ba : “ Đạo của Trời…mà xong việc”. Nếu thực hiện được cái Đạo Trung Dung hay Trung Đạo, thì mọi sự thành công một cách dễ dàng như ý.

Đoạn bốn : “Lưới Trời…chẳng lọt” .Quy luật tự nhiên chi phối vạn vật, tuy vô hình vô ảnh, mênh mênh mang mang , giống như cái lưới cao lồng lộng, nhìn không thể thấy, nhưng chẳng điều nhỏ nhặt nào có thể thoát qua.

 

  TỔNG LUẬN
 
 

Chương 21 nhắc lại sự quan trọng của chủ trương “Sống Theo Tự Nhiên” (VÔ VI)TRUNG ĐẠO.

 

CHƯƠNG 22
HÁN VĂN
 
Nhơn chi sanh dã nhu nhược
  Kỳ tử dã kiên cường
 
Vạn vật thảo mộc chi sanh dã nhu thuý
Kỳ tử dã khô kháo
 
Cố
Kiên cường giả
Tử chi đồ
Nhu nhược giả
Sanh chi đồ
 
Thị dĩ binh cường tắc bất thắng
Mộc cường tắc chiết
 
Cố
Kiên cường xử hạ
Nhu nhược xử thượng
 
   DỊCH NGHĨA
 
Người khi mới sanh thì mềm yếu
  Mà khi chết thì cứng và mạnh
Vạn vật cây cỏ mới sanh thì mềm dịu
  Mà khi chết thì khô héo
 
Nên
Cứng và mạnh là bạn của Chết
Mềm và yếu là bạn của Sống
Ấy nên
Binh mạnh thì không thắng
Cây mạnh thì ắt gãy
 
Cứng mạnh ở bực dưới
Mềm yếu ở bực trên
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 22 nói về thế mạnh của cách hành xử mang tính tiêu cực so với tích cực (Âm so với Dương).      

 

 CHƯƠNG 23

HÁN VĂN
Thiên hạ
Giai tri mỹ chi vi mỹ
Tư ác dĩ
Giai tri thiện chi vi thiện
                                                               Tư bất thiện dĩ
 
Cố
Hữu vô tương sanh
Nan dị tương thành
Trường đoản tương hình
Cao hạ tương khuynh
Âm thinh tương hoà
Tiền hậu tương tuỳ
 
Thị dĩ Thánh nhơn
    Xử Vô Vi chi sự
Hành Bất Ngôn Chi Giáo
Vạn vật tác yên nhi bất từ
Sanh nhi bất hữu
  Vi nhi bất thị
Công thành vi phất cư
       Phù duy phất cư
  Thị dĩ bất khứ
      DỊCH NGHĨA
 
Thiên hạ đều biết tốt là tốt
     Thì đã có xấu rồi
  Đều biết lành là lành
Thì đã có cái chẳng lành rồi
 
Bởi vậy
Có với Không cùng sanh
Khó với Dễ cùng thành
Cao với thấp cùng chiều
Giọng với Tiếng cùng hoạ
Trước với Sau cùng theo
 
Vậy nên Thánh nhơn
   Dùng Vô Vi mà xử sự
 Dùng “Bất Ngôn” mà dạy dỗ
Để cho Vạn vật nên mà không cản
    Tạo ra mà không chiếm đoạt
  Làm mà không cậy công
Thành công mà không ở lại
          Vì bởi không ở lại
Nên không bị bỏ đi
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Thiên hạ… cùng theo”  Hai yếu tố mâu thuẫn Âm Dương luôn hiện diện cùng lúc với nhau trong cuộc sống.

Đoạn hai : “ Vậy nên … bỏ đi” Đoạn này nhắc lại cách hành xử vô vi của người biết Đạo.

 
TỔNG LUẬN
 
Chương 23 nhắc lại quy luật Âm Dương và cách hành xử Vô Vi

CHƯƠNG 24
 
HÁN VĂN
Thiên trường địa cửu
Thiên địa sở dĩ năng cường
Thả cửu giả
Dĩ kỳ bất tự sinh
Cố năng trường sinh
 
Thị dĩ Thánh nhơn
Hậu kỳ thân nhi thân tiên
Ngoại kỳ thân nhi thân tồn
Phi dĩ kỳ vô tư da ?
Cố năng thành kỳ tư
 
      DỊCH NGHĨA
Trời dài đất lâu
Trời đất sở dĩ dài lâu
Là vì không sống cho mình
Nên mới đặng trường sinh
 
Vì vậy Thánh nhơn
Để  thân ra sau mà thân ở trước
Để thân ra ngoài mà thân đặng còn
Phải chăng vì không riêng tư
Mà thành được việc riêng tư ?
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Trời dài…trường sinh” Quy Luật “Vị Tha chính là Vị Kỷ” . (Làm vì người thì có lợi cho mình) Những người Trí Tuệ hiểu điều này. Nhưng người Đại Trí không vì điều này mà vị tha (không vì mục đích có lợi cho mình mà vị tha)

Đoạn hai : “ Vì vậy…riêng tư” . luật “Bất cảm vi thiên hạ tiên” (một trong mười ba con đường sống đã nói ở chương trước)

 
TỔNG LUẬN
 
Chương này đề cập đến quy luật “Vị Tha là Vị Kỷ” . Quy luật này dẫn đến một trong những hệ quả quan trọng của nó là “Bất cảm vi thiên hạ tiên”

 
CHƯƠNG 25
 
HÁN VĂN
 
Thượng thiện nhược thuỷ
               Thuỷ thiện lợi vạn vật
        Nhi bất tranh
    Xử chúng nhơn chi sở ố           
Cố cơ ư Đạo
 
Cư thiện địa
       Tâm thiện uyên
   Dữ thiện nhân
           Ngôn thiện tín
Chánh thiện trị
       Sự thiện năng
              Động thiện thời
 
              Phù duy bất tranh
                    Cố vô vưu
      DỊCH NGHĨA
 
Bậc ‘Thượng Thiện” giống như nước
                 Nước thì hay làm lợi cho vạn vật mà không tranh
           Ở chỗ mà mọi người đều ghét
                         Nên gần với Đạo
 
                Ở thì hay lựa chỗ thấp
Lòng thì chịu chỗ thâm sâu
Xử thế thì thích dùng đến lòng Nhân
Nói ra thì trung thành không sai chạy
Sửa trị thì chịu làm cho được thái bình
Làm việc thì hợp với tài năng
Cử động thì hợp với thời buổi
 
Ôi, vì không tranh
Nên không sao lầm lỗi
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Bậc “Thượng Thiện”…với Đạo” nguyên lý “Vị Tha tức Vị Kỷ” và “Bất Tranh Nhi Thiện Thắng”

Đoạn hai : “ Ở thì…lầm lỗi” Hành xử theo luật Âm Dương, Trung Đạo và vô vi.

 

TỔNG LUẬN
 
Chương này nhắc lại cách hành xử theo luật Âm Dương, Trung Đạo Vô Vi.

 

 

CHƯƠNG 26
 
HÁN VĂN
Trì nhi doanh chi
               Bất như kỳ dĩ
   Suỷ nhi chuyết chi
        Bất khả trường bảo
      Kim  ngọc mãn đường
             Mạc chi năng thủ
 
   Phú quý nhi kiêu
           Tự di kỳ cữu
     Công toại thân thối
       Thiên chi Đạo
      DỊCH NGHĨA
Ôm giữ chậu đầy
       Chẳng bằng đừng ôm
    Dùng dao sắc bén
           Không giữ được lâu
Vàng ngọc đầy nhà
Đừng nên chứa chấp
 
Giàu sang mà kiêu
        Tự vời hoạ tớ
  Việc thành thân thoái
Đó là Đạo Trời
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Ôm giữ…chứa chấp”  Quy luật bình đẳng, trung dung của tự nhiên khiến cho những gì thái quá hay bất cập đều nguy hiểm và không tồn tại lâu dài.

Đoạn hai : “ Giàu sang…Đạo Trời” . Tâm lý ganh tị của người đời khiến cho giàu sang và thành công hơn người sẽ bị  ghen ghét và dễ bị hãm hại. Vì vậy, giàu sang không nên kiêu ngạo (để làm giảm bớt sự ghen tức của người đời). Thành công nên bỏ đi để tránh sự tranh giành của thiên hạ.

 
 TỔNG LUẬN
 
Chương 26 ứng dụng các Quy luật tự nhiên  và tâm lý chung của con người trong cuộc sống.

 

CHƯƠNG 27
 
HÁN VĂN
 
Ngũ sắc lịnh nhơn mục manh
           Ngũ âm lịnh nhơn nhĩ lung
    Ngũ vị lịnh nhơn khẩu sảng ?
Trì sỉnh điền liệp
Lịnh nhơn tâm phát cuồng
Nan đắc chi hoá
Lịnh nhơn hành phương
 
Thị dĩ Thánh nhơn
    Vị phúc bất vị mục
Cố khử bỉ thủ thử
      DỊCH NGHĨA
 
Năm màu khiến người tối mắt
         Năm giọng khiến người điếc tai
   Năm mùi khiến người tê lưỡi
Sải ngựa săn bắn
Khiến lòng người hoá cuồng
Của cải khó đặng
Khiến người gặp nhiều tai ương.
 
  Bởi vậy Thánh nhơn
Vì bụng mà không vì mắt
   Nên bỏ cái này mà lấy cái kia.
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Năm màu…tai ương”: Con người vì khoái cảm của các giác quan, vì hưởng thụ ngũ dục mà mê mờ tâm trí, làm mọi cách chiếm hữu thật nhiều của cải tiền bạc để thoả mãn dục vọng, hưởng thụ cuộc sống. Vì sự mê mờ này khiến con người gặp nhiều tai ương.

Đoạn hai : “ Bởi vậy…cái kia”. Thánh nhơn vì hiểu được như thế nên không chạy theo dục vọng của giác quan, mà sống theo con đường của Đạo.

 
TỔNG LUẬN
 
Chương 27 nói về những dục vọng của người đời khiến tâm trí bị mê mờ làm những điều trái đạo, nên gặp sự hiểm nguy. Người trí tuệ thấy được sự sai lầm đó mà tránh xa, không phạm phải.

 

CHƯƠNG 28
HÁN VĂN
    Cổ chi thiện vi sĩ giả
          Vi diệu huyền thông
Thâm bất khả thức
        Phù duy bất khả thức
   Cố cưỡng vi chi dung
 
Dự yên nhược đông thiệp xuyên
      Do hề nhược uý tứ lân
   Nhiễm hề kỳ nhược khách
        Hoán hề nhược băng chi tương thích
Đôn hề kỳ nhược phác
             Khoáng hề kỳ nhược cốc
  Hỗn hề kỳ nhược trọc
 
Thục năng trọc dĩ chỉ
             Tĩnh chi từ thanh
Thục dĩ an dĩ cửu
                    Động chi từ sanh
 
       Bảo thử Đạo giả bất dục doanh
             Phù duy bất doanh
Cố năng tế bất tân thành
    
  DỊCH NGHĨA
Bậc toàn thiện xưa
            Hiểu biết tinh thông
    Thâm sâu không thể lường hết
Không thể biết hết chỗ thâm sâu
       Nên chỉ gượng hình dung, mô tả đó 
 
Dè chừng như bước qua sông băng
          Cẩn trọng dường sợ hãi bốn phía
Nghiêm kính dường khách lạ
       Chảy ra dường băng tan
Quê mùa dường gỗ chưa đẽo gọt
             Trống không dường hang núi
Pha lẫn dường nước đục
 
 Nước đục thì sẽ ngưng đọng lại
           Ngưng đọng yên “tĩnh” thì nước sẽ trong
Như thế sẽ bình an và trường cửu
       Sau đó sẽ sanh ra “động”
 
Kẻ giữ Đạo không muốn đầy
Vì không muốn đầy
Nên mới an toàn mà không xảy ra điều gì mới
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Bậc toàn thiện …mô tả đó” . Đạo Đức Kinh nói : Những bậc đạt Đạo xưa, thông đạt chân lý thâm sâu mà người bình thường không thể nào có khả năng hiểu được tận tường,  nên sách vở chỉ là tạm nói, miễn cưỡng hình dung, miêu tả chân lý nhưng không thể nào chuyển tải được hết ý tứ người xưa.

Đoạn hai : “Dè chừng…nước đục” Hành xử trong đời phải cẩn thận như đi xuyên qua sông băng ( băng có thể tan, ta có thể chết chìm). Thận trọng như sợ nguy hiểm tứ bề. Đối với người khác luôn nghiêm cẩn, chừng mực như khách lạ. Thích nghi với cuộc sống như băng tan từ từ. Để tự nhiên mà không giả dối như gỗ chưa đẽo gọt. Lòng thẳng thắn không toan tính, mưu mô, trống không như hang núi. Hoà với cuộc đời ô trọc như nước bị vẩn đục.

Đoạn ba : “Nước đục…sanh ra “động””. Đây là quá trình chuyển từ “tịnh” sang “động”.

Đoạn bốn : “Kẻ giữ Đạo…điều gì mới”. Người giữ được Đạo không bao giờ muốn cái gì thái quá hay bất cập. Sự thái quá (tức cùng cực) thì sẽ sinh biến (Sự cùng tắc biến, vật cực tắc phản). Vì thế nên “khứ thậm, khứ xa, khứ thái” để tránh bị phản biến.  

 
TỔNG LUẬN
Chương 28 nói về những điều cần hành xử theo Đạo trong cuộc sống

 

                                                                                       CHƯƠNG 29

HÁN VĂN
 
Trí hư cực
    Thủ tịnh đốc
 
Vạn vật tịnh tác
Ngô dĩ quan phục
Phù vật vân vân…
Các phục quy kỳ căn
 
Quy căn viết tịnh
       Thị vị viết “Phục Mạng”
“Phục Mạng” viết “Thường”
 
Tri “Thường” viết “Minh”
Bất tri thường, vọng tác hung
 
Tri thường dung
        Dung nãi công
Công nãi vương
        Vương nãi thiên
Thiên nãi Đạo
         Đạo nãi cửu
Một thân bất đãi
      DỊCH NGHĨA
Đến chỗ cùng cực hư không
Là giữ vững được trong cái “Tịnh”
 
            Vạn vật cùng đều sinh ra
Ta lại thấy nó trở về gốc
Ôi ! Mọi vật trùng trùng
Đều trở về cội rễ của nó
 
Trở về cội rễ gọi là Tịnh
Ấy gọi là “Phục Mạng”
“Phục Mạng” gọi là “Thường”
 
Biết “Thường” gọi là “Minh”
Không biết đạo “Thường” mà làm càn là gây hung hoạ 
 
Biết Đạo thì bao dung
Bao dung thì công bình
Công bình thì bao khắp
Bao khắp là Trời
Trời là Đạo
Đạo thì lâu dài
(Ai mà như vậy) Suốt đời không nguy
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Đến chỗ…cái “Tịnh””  Người đạt Đạo là giữ ổn định trong trạng thái “Tịnh”. (muốn đạt đến chỗ “Tịnh” thì phải “hư” (trống không” )Tịnh cực thì Dương sinh (vạn vật hình thành).

Đoạn hai : “ Vạn vật…cội rễ của nó”  Vạn vật trong vũ trụ hoạt động theo chu kỳ. Mỗi chu kỳ là một lần trở về chỗ xuất phát của nó (ở thời điểm mới)(Phục mạng là quay trở về mạng xưa). Đây là nguyên lý “vũ trụ tuần hoàn theo dạng lò xo xoắn”

Đoạn ba : “Trở về …gọi là “Thường””. Nguyên tắc Tuần Hoàn chính là chân lý “thường hằng” trong vũ trụ.

Đoạn bốn : “Biết “Thường”…hung hoạ” . Biết cái “thường hằng” là con người Trí Tuệ. Không biết, là kẻ mê vọng, mê vọng làm càn tất chiêu hung hoạ.

Đoạn năm : “Biết  Đạo…không nguy”  Sống với Đạo thì một đời không gặp nguy.

 

TỔNG LUẬN
 
Chương 29  chủ yếu bàn về nguyên lý Vũ Trụ Tuần Hoàn

CHƯƠNG 30
HÁN VĂN
 
Tuyệt học vô ưu
 
         Duy chi dữ a
     Tương khứ kỷ hà ?
              Thiện chi dữ Ác
  Tương khứ nhược hà ?
 
Nhơn chi sở uý
     Bất khả bất uý
         Hoang hề kỳ vị ương tai !
 
Chúng nhơn hy hy
                                                            Như hưởng thái lao
Như xuân đăng đài
Ngã độc bạc hề kỳ vị triệu
      Như anh nhi chi vị hài
   Luy luy hề nhược vô sở quy
 
Chúng nhơn giai hữu dư
           Nhi ngã độc nhược di
    Ngã ngu nhơn chi tâm dã tai
                    Độn độn hề
 
        Tục nhơn chiêu chiêu
              Ngã độc hôn hôn
    Tục nhơn sát sát
                 Ngã độc muộn muộn
                                                            Đạm hề kỳ nhược hải
                                                                 Liêu hề nhược vô chỉ
Chúng nhơn giai hữu dĩ
Nhi ngã độc ngoan tự bỉ
 
       Ngã độc dị ư nhơn
       Nhi quý thực mẫu
 
 
DỊCH NGHĨA
 
Dứt học không lo
 
                  “Dạ” cùng với “ơi”
      Chẳng phải cùng nhau  đi sao ?
                 Thiện cùng với Ác
      Chẳng phải cùng nhau đến sao ?
 
Chỗ mà người sợ
Không thể không sợ
Điều đáng sợ chưa đến thì sợ có ích gì
 
Người đời vui vẻ
Như hưởng nhàn hạ an bình
    Như lên đài cao nhìn ngắm cảnh xuân
Riêng ta im lặng  chẳng tỏ vẻ chi
     Như trẻ sơ sinh chưa biết vui cười
Như người không biết chỗ quay về của mình
 
Người đời đều có dư
   Riêng ta thì thiếu thốn
Lòng ta ngu dốt vậy thay !
            Mờ mịt chừ
 
Người đời sáng chói chói
Riêng ta tối mờ mờ
Người đời phân biện rõ rõ
Riêng ta trộn lẫn lờ lờ
 Điềm tĩnh dường  tối tăm
Vùn vụt dường yên lặng
Mọi người đều hữu dụng
Riêng ta ngu dốt, thô lậu.
 
Ta riêng khác người đời
                                                Nên quý Mẹ nuôi sống muôn loài vạn vật.
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Dứt học không lo” : Không học theo “hữu vi” thì không còn gì đáng lo.

Đoạn hai : “Dạ cùng…đến sao ?”  Âm và Dương, Tiêu cực và Tích cực luôn đi cùng nhau, xuất hiện cùng nhau, biến mất cùng nhau.

Đoạn ba : “Chỗ mà…có ích gì” Không nên lo những điều chưa xảy đến một cách vô ích.

Đoạn bốn : “Người đời…của mình” Thiên hạ thông thường lo tận hưởng thú vui, dục lạc trong cuộc sống. Những người hiểu Đạo thì không như thế. Tâm hồn họ hồn nhiên trong sáng như trẻ sơ sinh chưa nếm trải cuộc đời. Sống (không cố tích luỹ) như kẻ không có mục đích gì (tiền tài, danh vọng v.v…) đoạn kinh văn này gọi là “như người không biết chỗ quay về”

Đoạn năm : “Người đời…mờ mịt chừ !” So sánh giữa người hiểu Đạo và người không. Người biết Đạo thường làm ngược lại điều bình thường nên bị cho là ngu dốt, mờ mịt.

Đoạn sáu : “Người đời…thô lậu” So sánh sự khác nhau giữa người có Đạo và vô Đạo. Người vô Đạo thường có vẻ như khôn ngoan, hữu dụng, người có Đạo thì lại có vẻ như ngu si, vô dụng.

Đoạn bảy : “ Ta riêng…vạn vật”  Người có Đạo khác thiên hạ thông thường, nên biết yêu quý, tôn trọng những Quy Luật Tự Nhiên, là Mẹ sinh ra và nuôi dưỡng vạn vật muôn loài.

 
TỔNG LUẬN
 
Chương 30  phân biệt sự khác nhau giữa người hiểu Đạo và những người bình thường chưa biết Đạo.

 
CHƯƠNG 31
 HÁN VĂN
Khúc tắc toàn
Uổng tắc trực
Oa tắc doanh
Tệ tắc tân
Thiểu tắc đắc
Đa tắc hoặc
 
Thị dĩ Thánh nhơn bão “Nhất”
Vi thiên hạ thức
Bất tự kiến, cố minh
Bất tự thị, cố chương
Bất tự phạt, cố hữu công
Bất tự căng, cố trưởng
 
Phù duy bất tranh
Cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh
Cổ chi sở vị khúc tắc toàn giả
Khởi hư ngôn tai !
Thành, toàn nhi quy chi
 
DỊCH NGHĨA
 
Cái gì khuyết thì lại toàn
Cái gì cong thì lại ngay
Cái gì sâu thì lại đầy
Cái gì cũ thì lại mới
Ít thì lại được
Nhiều thì lại mê
 
Thánh nhơn ôm lấy cái “Một”, bởi vậy
Mới làm mẫu mực cho thiên hạ
Không cho mình là Trí, nên sáng
Không kiêu căng tự mãn, nên chói
Không cho mình có công, nên có công
Không khoe mình, nên đứng đầu
Vì không tranh giành
Nên thiên hạ không ai tranh nổi với mình
 
Chỗ người xưa gọi là “khuyết thì lại toàn”
Há phải lời nói sai đâu ?
Thành là trở về chỗ “Toàn” vậy
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Cái gì khuyết …nhiều thì lại mê” . Nguyên lý sự sống là phải giữ được trạng thái LUÔN LUÔN TRỞ THÀNH cái mình muốn. Cho nên, muốn được cái gì thì phải bắt đầu từ chỗ ngược lại. ví dụ : “Cao dĩ thấp vi bổn” (muốn lên cao phải bắt đầu từ chỗ thấp), vì cái ĐÃ THÀNH sẽ tiếp tục chuyển biến tiếp thành cái khác. Vì thế, đoạn này nói rằng phải coi mình như đang ở chỗ ngược lại (với cái mình mong muốn) thì sẽ tiến đến được chỗ mình muốn.

Đoạn hai : “Thánh nhơn…với mình”. Trong ứng xử, Bậc Đại Trí dùng tâm “không phân biệt” để xử kỷ, tiếp vật (ôm lấy cái “Một”), Thánh nhơn là tấm gương cho thiên hạ noi theo. Hành xử của thánh nhơn cũng dựa trên nguyên tắc giống như đã nói ở đoạn một.

Đoạn ba : “ Chỗ người xưa…chỗ “Toàn” vậy”. Chữ “TOÀN” ở đây nghĩa là đầy đủ, toàn vẹn gồm cả Âm Dương (cái “MỘT”). Dương Chu (một trong số triết gia nổi tiếng trong “Bách Gia Chư Tử” của Trung Quốc) gọi điều này là “Toàn Thiên Bảo Chân”. Chữ “Toàn” này chính là Đạo vậy.

TỔNG LUẬN
 
Chương 31 nhấn mạnh nguyên lý “ luôn trở thành và tránh tình trạng “đã thành” để sự thành tựu được lâu dài, bền vững.

 

                                       CHƯƠNG 32
 
 HÁN VĂN
 
Khí giả bất lập
           Khoá giả bất hành
     Tự kiến giả bất minh
              Tự thị giả bất chương
Tự phạt giả vô công
         Tự căng giả bất trưởng
 
         Kỳ tại Đạo dã
                 Viết : “Dư thực chuế hành”
     Vật hoặc ố chi
            Cố, hữu đạo giả bất xử
 
DỊCH NGHĨA
 
Nhón gót lên thì không đứng vững
         Xoạc chân ra thì không bước được
       Tự cho là biết thì không sáng
Tự cho là giỏi thì không chói
     Tự xem là có công thì không công
           Tự kiêu căng thì không đứng đầu
 
                        Theo Đạo mà nói thì
                                  “Đồ ăn dư, việc làm thừa”
             Ai cũng oán ghét
Vì vậy, người có Đạo không làm
 
    BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Nhón gót…đứng đầu” ý của đoạn kinh văn này trùng hợp với ý của đoạn một chương 31.

Đoạn hai : “Theo Đạo…không làm” : Người có Đạo không đưa đồ ăn thừa cho người khác (chứng tỏ thiếu tôn trọng), không làm việc thừa (không cần thiết) vì chỉ có hại không có lợi.

 Tóm lại, những điều không đúng thì người có Đạo không làm. 

 TỔNG LUẬN 
Chương 32 chủ yếu lập lại ý của chương 31 nhưng cách diễn tả hơi khác mà thôi

 

CHƯƠNG 33
 
 HÁN VĂN
 
Thiện hành vô triệt tích
Thiện ngôn vô hà trích
Thiện số bất dụng trù sách
Thiện bế vô quan kiện nhi bất khả khai
Thiện kết vô thằng ước nhi bất khả giải
 
Thị dĩ thánh nhơn
Thường thiện cứu nhơn, cố vô khí nhơn
Thường thiện cứu vật, cố vô khí vật
Thị vị  tập minh
 
                       Cố;
Thiện nhơn giả bất thiện nhơn chi sư
Bất thiện nhơn giả, thiện nhơn chi tư
Bất quý kỳ sư
                                                    Bất ái kỳ tư                                                                                                                                                                     
                                                 Thị vị yếu diệu
 
DỊCH NGHĨA
 
Đi khéo không để dấu chân
Nói khéo không để lỗi lầm
Tính khéo, không dùng bàn toán
Đóng khéo, không dùng khoá mà không mở đặng
Thắt khéo, không cần buộc mà không tháo đặng
 
Cho nên Thánh nhơn
Thường khéo cứu người nên không người nào bị bỏ
Thường khéo cứu vật nên không  vật nào bị bỏ
Ấy gọi là “Sáng bằng hai”
 
Nên chi, người lành là thầy của kẻ không lành
Người không lành là của cải của người lành
Không quý người lành ấy
Không yêu thương người không lành ấy
Dù bậc trí cũng mê to
Yếu diệu là đó
 
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Đi khéo…tháo đặng” . Ý của đoạn này muốn nói, mọi việc nếu khéo xử thì thành công dễ dàng không tốn nhiều công sức. Từ “Khéo” ở đây chỉ cho sự biết nương theo các quy luật tự nhiên mà hành động, giống như :”bất chiến tự nhiên thành” (không cần đánh nhau mà vẫn thắng). Điểm mấu chốt ở đây chính là biết ứng dụng các quy luật tự nhiên vào các tình huống cụ thể.

Đoạn hai : “Cho nên…sáng bằng hai” Thánh nhơn hiểu Đạo là Sáng, biết ứng dụng Đạo để cứu người, cứu vật khiến cho không người nào, vật nào bị bỏ. Đó gọi là Sáng gấp hai lần

Đoạn ba : “Nên chi…là đó” Đoạn này ý nói Thánh nhơn dùng tâm vô phân biệt để thương và quý  người lành, người dữ như nhau. Đó là đến được cái “Một” của Đạo.

                                                     
                                             TỔNG LUẬN
 Chương 33 nhắc lại sự hiểu biết và ứng dụng quy luật tự nhiên vào cuộc sống của những bậc Thánh nhơn

 

CHƯƠNG 34
 
 HÁN VĂN
 
Tương dục thủ thiên hạ nhi vi chi
Ngô kiến kỳ bất đắc dĩ
Thiên hạ thần khí bất khả vi dã
Vi giả bại chi
Chấp giả thất chi
 
Cố, vật
Hoặc hành, hoặc tuỳ
Hoặc hư, hoặc xuy
Hoặc cường, hoặc luy
Hoặc toả, hoặc truy
 
 
Thị dĩ Thánh nhơn
Khứ thậm, khứ xa, khứ thái
 
 
 DỊCH NGHĨA
 
Muốn lấy thiên hạ mà làm theo ý mình
                     Ta thấy không thể được rồi
Thiên hạ là món đồ thần, chẳng thể làm theo ý mình được đâu
                            Hễ làm thì hỏng
                            Hễ giữ thì mất
 
Cho nên, vật
Hoặc đi, hoặc theo
Hoặc hà, hoặc hít
Hoặc mạnh, hoặc yếu
Hoặc che, hoặc phá
 
Vậy nên Thánh nhơn
Lánh bỏ những gì thái quá
 
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Muốn lấy…thì mất” Cái gì làm theo ý mình (hữu vi) mà không làm theo quy luật tự nhiên (vô vi) thì thất bại.

Đoạn hai : “ Cho nên vật…hoặc phá” Sự vật và sự việc trên đời đều thuộc hoặc Âm hoặc Dương (hoặc tiêu cực hoặc tích cực) ví dụ như yếu và mạnh , thở ra và hít vào v.v…

Đoạn ba : “ Ấy nên…thái quá” Vậy nên, bậc Thánh Trí tránh xa những gì thái quá, hoặc cực này hoặc cực kia, mà giữ Đạo Trung Dung.

                                          
                                             TỔNG LUẬN 
Chương 34 nêu lên thực trạng là, thế giới của chúng ta, gồm tất cả các sự vật và sự việc, cái nào cũng ở trạng thái hoặc Âm hoặc Dương. Bậc Thánh nhơn không dùng hữu vi để làm hỏng việc mà dùng vô vi để ứng xử và giữ  Đạo Trung Dung để phù hợp với luật Quân Bình.

 
CHƯƠNG 35
 HÁN VĂN
Tri nhơn giả trí
Tự tri giả minh
Thắng nhơn giả hữu lực
Tự thắng giả cường
Tri túc giả phú
 
Cưỡng hành giả hữu chí
Bất thất kỳ sở giả cửu
Tử nhi bất vong giả thọ
 
DỊCH NGHĨA
 
Biết người là Trí
Biết mình là Tuệ
Thắng người là có sức
Thắng mình là mạnh
Biết đủ là giàu
 
Gượng làm là có chí
Không mất  căn bản thì bền lâu
Chết mà không mất là sống lâu
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Biết người…là giàu”.  “Biết người là Trí, biết mình là Tuệ” Đây là quan điểm của người hiểu Đạo : Biết người khác là do có kiến thức xã hội, gọi là Trí. Tự biết mình vừa phải có kiến thức xã hội, vừa phải có sự quán chiếu bản thân nhận định và đánh giá chính xác. Làm được điều này là Trí Tuệ (Minh). Nhìn ra bên ngoài (nhìn người )thì dễ. Quay lại nhìn bản thân mình (nhìn mình) thì rất khó. Đạo Phật gọi việc này là “Hồi quang phản chiếu”. Socrate, Triết gia phương Tây bất tử với câu nói : “Connais toi, toi-même” (ngươi hãy tự biết mình). Vì vậy, biết người đã khó, biết mình còn muôn phần khó hơn, dù rằng “Tự biết mình”  chỉ mới là bước đầu tiên trên hành trình Tu Đạo.

“Thắng người là có sức. Thắng mình là mạnh”: Giống như vậy, Thắng người đã khó, Tự thắng mình, khó muôn lần hơn. Thắng người là Lực (sức mạnh cơ bắp hoặc bên ngoài). Tự thắng là Mạnh (sức mạnh của ý chí hay bên trong).

Biết đủ là giàu” : Nhu cầu theo ước muốn của con người thì không có giới hạn và vô tận. Vì vậy, không có tiêu chuẩn cho sự thiếu, đủ. Cho nên  biết đủ là giàu. Đây là cảm nhận chủ quan của mỗi cá nhân.

Đoạn hai : “ gượng làm … sống lâu”. “Gượng làm là có chí”: Người sống theo lý trí thì hành động theo điều họ thấy cần và phải làm, chứ không làm theo sở thích và cảm tính. Vì vậy họ cần phải có ý chí để cố gắng (gượng) làm những điều họ không thích.

Không mất căn bản thì bền lâu”: Mọi sự mọi việc nếu có cơ sở vững chắc thì chắc chắn tồn tại bền lâu hơn cái không có hoặc có ít hơn. Ví dụ như nhà có nền móng chắc thì sẽ tồn tại lâu hơn cái không có móng hoặc móng nhẹ.

Chết mà không mất là sống lâu”  Chết là sự tiêu hoại của thân xác vật lý, nhưng danh tiếng và những sự nghiệp họ để lại thế gian vẫn còn được lưu truyền (không mất) thì có nghĩa là họ vẫn còn “tồn tại”.

                                           

TỔNG LUẬN
 
Chương 35 trình bày quan điểm của người hiểu Đạo về một số vấn đề quan trọng trong cuộc sống.

 
 
CHƯƠNG 36
 
 HÁN VĂN
Đại đạo phiếm hề
Kỳ khả tả hữu
Vạn vật thị chi nhi sinh nhi bất từ
Công thành bất danh hữu
Y dưỡng vạn vật nhi bất vi chủ
Thường vô dục khả danh ư Tiểu
Vạn vật quy yên nhi bất vi chủ
Khả danh vi Đại
 
Dĩ kỳ chung bất tự vi đại
Cố năng thành kỳ đại
 
DỊCH NGHĨA
 
Đạo lớn tràn lấp
Bên phải bên trái
Vạn vật nhờ Nó mà sinh ra
               Mà không một vật nào bị Nó khước từ
Xong việc rồi không để tên
           Che chở, nuôi nấng muôn loài mà không làm chủ
Thường không ham muốn
                     Nên có thể gọi tên là Nhỏ
Được muôn vật theo về mà không làm chủ
                Nên có thể gọi tên là Lớn
 
Bậc Thánh nhơn cho đến ngày cùng không cho mình là lớn
          Cho nên mới thành được việc lớn của mình
 
BÌNH CHÚ
 

Đoạn một : “ Đạo lớn…tên là lớn” : Mô tả sự to lớn của Đạo bao trùm khắp nơi. Đạo sinh ra vạn vật, nuôi nấng, che chở, bảo bọc mà không coi đó là những thứ sở hữu của mình, làm mọi thứ mà không cậy công, xong việc rồi thì ra đi. Vì không có lòng ham muốn nên gọi đó là Nhỏ. Không làm chủ mà vạn vật quy về nên gọi là Lớn.

Đoạn hai : “Bậc Thánh…của mình” Bậc Thánh Nhơn bắt chước theo cái Đức của Đạo, suốt đời không tự cho mình là lớn nên mới thành được việc lớn.

 
TỔNG LUẬN
 
Chương 36 nhắc lại sự vĩ đại của Đạo và cái Đức của Đạo.

CHƯƠNG 37
 
HÁN VĂN
Chấp đại tượng
Thiên hạ vãng
Vãng nhi bất hại
An bình thái
 
Nhạc dữ nhị
Quá khách chỉ
Đạo chi xuất khẩu
Đạm hồ kỳ vô vị
Thị chi bất túc kiến
Thính chi bất túc văn
Dụng chi bất túc ký
 
DỊCH NGHĨA
 
Nắm được Đại Tượng
Đi khắp thiên hạ
Đi đến đâu cũng không hại
Được yên ổn thái bình
 
Nhạc và bánh
Khách đi qua dừng lại
Đạo ra cửa miệng
Lạt lẽo vô vị
Nhìn không đủ thấy
Lắng không đủ nghe
Dùng Nó, không hết
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Nắm được…thái bình” : Nếu nắm được các quy luật tự nhiên thì có đi khắp mọi nơi, làm hết mọi việc cũng vẫn bình  yên

Đoạn hai : “ Nhạc và bánh…không hết” : Nhạc và bánh (đại diện cho những thứ đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của con người) thu hút hết thảy mọi người, nhưng Đại Đạo thì không như vậy. Đạo nói ra, nghe lạt lẽo vô vị, không thể dùng giác quan mà cảm nhận, không thể dùng kiến thức mà biết hết. Nhưng, khi đã hiểu Đạo rồi thì việc ứng dụng của nó vào đời sống để thành công thì thật là vô tận.

 

 TỔNG LUẬN
 
Chương 37 so sánh Đạo với những thứ thu hút sự quan tâm, thích thú của con người. Đạo thì khó hiểu, vô vị, lạt lẽo, không gây hứng thú, nhưng khi đã hiểu nó và ứng dụng được thì sự lợi ích là vô cùng, dù đi đến bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì cũng bình an vô sự.

 

CHƯƠNG 38
 
 HÁN VĂN
 
Thượng đức bất đức
Thị dĩ hữu đức
    Hạ đức bất thất đức
Thị dĩ vô đức
 
Thượng đức vô vi nhi vô dĩ vi
Hạ đức vi chi nhi hữu dĩ vi
 
Thượng nhân vi chi nhi vô dĩ vi
Thượng nghĩa vi chi nhi hữu dĩ vi
Thượng lễ vi chi nhi mạc chi ứng
    Tắc nhương tý nhi nhưng chi
Cố,
Thất Đạo nhi hậu Đức
Thất Đức nhi hậu Nhân
Thất Nhân nhi hậu Nghĩa
Thất Nghĩa nhi hậu Lễ
Phù Lễ giả, trung tín chi bạc
Nhi loạn chi thủ
Tiền thức giả, Đạo chi hoa nhi ngu chi thuỷ
 
Thị dĩ Đại Trượng Phu
Xử kỳ hậu bất cư kỳ bạc
Xử kỳ thực bất cư kỳ hoa
Cố khử bỉ thủ thử  

                                                                                                                                                                                                                                                                                                         

                                       DỊCH NGHĨA

Đức mà cao là không có Đức
          Bởi vậy mới có Đức
Đức mà thấp là không mất Đức
     Nên không có Đức
Đức mà cao thì không làm
Lại không cậy đó là có làm
Đức mà thấp thì có làm
Lại cho là có làm
 
Nhân mà cao thì làm
         Nhưng không cho đó là có làm
      Nghĩa mà cao cũng làm
   Lại cho là có làm
Lễ mà cao thì làm
         Nếu không được đáp
    Thì xăn tay mà lườm
 
           Vì vậy, mất Đạo rồi mới có Đức
                 Mất Đức rồi mới có Nhân
                   Mất Nhân rồi mới có Nghĩa
          Mất Nghĩa rồi mới có Lễ
Lễ chỉ là cái vỏ mõng của lòng trung tín
                  Mà cũng
    Là đầu mối của hỗn loạn
        Tiền thức chỉ là hoa của Đạo
Mà cũng là gốc của ngu
 
Ấy nên bậc Đại Trượng Phu
           Ở chỗ dầy không ở chỗ mỏng
    Chuộng trái không chuộng hoa
Nên bỏ đây mà giữ đó
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Đức mà cao… có làm”  Người đời tri thức hạn hẹp, không thể thấy hết chỗ cao của Đức, nên mới lầm tưởng người Đức cao là không có Đức, và ngược lại. Vả lại, Đức cao thì làm mà không cậy công, cũng chẳng cần ai biết. Đức mà thấp (hay không có đức) thì làm ngược lại. Vì vậy, người đời thường nhầm lẫn mà đánh giá sai sự thực.
 Đoạn hai : “Nhân mà ….mà lườm” Người thật có lòng Nhân, làm mà không nghĩ mình có công, cũng không cần ai biết.  Người làm việc Nghĩa thường nghĩ mình có công lao giúp người. Người biết giữ Lễ (cư xử theo phép tắc quy định cho các mối quan hệ trên dưới, thứ bậc cao thấp) thường chấp vào cách ứng xử của kẻ khác với mình. Nếu họ không giữ lễ đáp lại thì lập tức phản ứng tiêu cực.
Đoạn ba : “Vì vậy…gốc của ngu” : Đạo là đầu mối lớn nhất bao trùm tất cả. Chữ “mất” có nghĩa là không hiểu hoặc không tuân theo. Mất Đạo rồi mới đến Đức, mất Đức mới đến Nhân, mất Nhân mới đến Nghĩa, mất Nghĩa mới đến Lễ. Lễ chỉ là phép xử sự bên ngoài theo thứ bậc. Xã Hội ưa tranh giành ngôi vị, thứ bậc,( ngoài mục đích vì lợi lộc ra) họ còn muốn được cư xử trọng vọng (theo Lễ). Lễ được gắn liền với Danh. Vì sự tranh giành Danh vọng của con người, nên Lão Tử coi Lễ như một nguyên nhân tạo nên hỗn loạn. Lễ chỉ là sự thể hiện mỏng manh của Đạo trong các mối quan hệ xã hội (nên gọi là “hoa” của Đạo) nhưng nếu người ta bám theo cái “ngọn” này mà không cần biết đến Đạo, thì hành động này là gốc của ngu.
Đoạn bốn : “ Ấy nên…mà giữ đó”  Bậc Đại Trượng Phu (hiểu Đạo) lấy Đạo và Đức làm căn bản, chứ không phải là Lễ Nghĩa (ở chỗ dầy không ở chỗ mỏng) giữ gốc không giữ ngọn (chuộng trái không chuộng hoa) ,nên bỏ ngọn mà giữ gốc vậy.
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 38 phân tích, nhận định và đánh giá về Đạo, Đức, Nhân, Nghĩa, Lễ . Kết luận, người hiểu Đạo phải quan tâm và giữ lấy Đạo và Đức là cái gốc trước tiên và quan trọng hơn những đức tính khác.
 
CHƯƠNG 39
 HÁN VĂN
Đạo sanh Nhất
Nhất sanh Nhị
Nhị sanh Tam
Tam sanh vạn vật
Vạn vật phụ Âm nhi bão Dương
Xung khí dĩ vi hoà
 
Nhơn chi sở ố
Duy cô quả bất cốc
Nhi vương công dĩ vi xưng
Cố,
Vật hoặc tổn chi nhi ích
Hoặc ích chi nhi tổn
 
Nhơn chi sở giáo
Ngã diệc giáo chi
Cường lương giả bất đắc kỳ tử
Ngô tương dĩ vi giáo phụ
 
DỊCH NGHĨA
 
Đạo sanh Một
Một sanh Hai
Hai sanh Ba
Ba sanh vạn vật
Trong vạn vật không vật nào
Mà không cõng Âm và bồng Dương
Nhân chỗ xung nhau mà hoà với nhau.
 
Chỗ ghét của người
      Là “cô lậu” “quả đức” “bất thiện”
Thế mà bậc Vua Chúa
       Lại dùng đó mà tự xưng
    Vậy, sự vật trong đời
Bớt là thêm
Thêm là bớt
 
Chỗ mà người xưa dạy
Ta nay cũng dạy
Dùng bạo động
Chết bạo tàn
Người nói câu ấy là Thầy ta
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Đạo sanh một…hoà với nhau” Theo cách nói của Kinh Dịch thì Đạo (Vô Cực) sanh Một (Thái Cực) Một sanh Hai (Thái cực sanh Lưỡng Nghi) Hai sanh Ba (Lưỡng Nghi sanh Tam Tài :Thiên, Địa, Nhân). Ba sanh vạn vật. Mỗi vật trong Vạn Vật đều có hai yếu tố Âm Dương. Âm Dương mâu thuẫn nhưng dung hoà nhau để vạn vật tồn tại.

       Đoạn hai : “ Chỗ ghét…thêm là bớt” nguyên lý “Luôn Luôn Trở Thành” nói ở Chương 31 khiến người ta cần ở chỗ ngược lại điều mình muốn thì mới giữ được cái mình muốn giữ lâu bền. Đoạn ba : “Chỗ mà…Thầy ta” Đây là lý Nhân- Quả (gieo gì, gặt nấy)
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 39 nhắc lại nguyên lý Âm Dương của Vũ Trụ. Nguyên Lý “Luôn luôn trở thành” và Luật Nhân-Quả.
 
CHƯƠNG 40
 
 HÁN VĂN
 
Danh dữ thân, thục thân ?
         Thân dữ hoá, thục đa ?
   Đắc dữ vong, thục bệnh ?
 
Thị cố
Thậm ái tất thậm phí
    Đa tàng tất hậu vong
Tri túc bất nhục
    Tri chỉ bất đãi
                              Khả dĩ trường cửu
 
DỊCH NGHĨA
 
Danh và Thân, cái nào quý hơn ?
     Thân và Của, cái nào trọng hơn ?
   Được và mất, cái nào khổ hơn ?
 
Vậy nên
Thương nhiều ắt tổn nhiều
Chứa nhiều ắt mất nhiều
Biết đủ không nhục
Biết dừng không nguy
                Có thể tồn tại lâu dài được
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Danh và Thân…khổ hơn”. Hai câu đầu là dạng câu hỏi khẳng định (hỏi tức là trả lời)  Ai cũng biết thân xác quý hơn của cải và danh vọng. Riêng câu hỏi “Được và Mất cái nào khổ hơn”. Câu trả lời còn tuỳ vào trình độ tri kiến của từng người. Đây chỉ là câu hỏi gợi ý, nêu vấn đề cho ta suy nghĩ.
Đoạn hai : “Vậy nên…lâu dài” Đạo Đức Kinh nêu lên một sự thật là mọi vật luôn biến chuyển vô thường, không có gì tồn tại vĩnh cửu, nên cái gì cũng phải thay đổi, cũng phải biến mất. Vậy nên,  đừng quá tham. Biết dừng lại đúng lúc thì không nguy. Biết đủ, không muốn những điều ngoài khả năng hoặc không phải của mình thì không nhục. Như vậy thì có thể bình ổn dài lâu.  
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 40 Đạo Đức Kinh nhắc đến luật "vô thường", khuyên mọi người đừng quá tham, để có thể sống  bình an.

 CHƯƠNG 41

 HÁN VĂN
 
Bất xuất hộ, tri thiên hạ
Bất khuy dũ, kiến Thiên Đạo
Kỳ xuất di viễn
Kỳ tri di thiểu
 
Thị dĩ thánh nhơn
Bất hành nhi tri
Bất kiến nhi danh
Bất vi nhi thành
 
 DỊCH NGHĨA
Không ra khỏi cửa
Mà biết được việc thiên hạ
Không dòm ngoài cửa
Mà thấy được Đạo Trời
Càng ra xa
Càng biết ít
 
Bởi vậy Thánh Nhơn
Không đi mà biết
Không thấy mà hiểu
Không làm mà nên
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Không ra …biết ít” : Những sự hiểu biết uyên bác như Đạo Trời (luật vũ trụ) không phải “nhìn ra bên ngoài” (tìm kiếm ở bên ngoài bản thân mình) mà thấy được. Càng tìm kiếm bên ngoài “càng ra xa” càng biết ít.  Đây là phương pháp tìm chân lý bằng phương pháp “Nội Quán” của Phật Giáo, Y Học phương Đông, Triết học phương Đông và tư tưởng của Socrate : “Ngươi hãy tự biết chính mình” .
Đoạn hai : “ Bởi vậy….mà nên” Các bậc thượng trí thường dùng phương pháp nội quán để tìm hiểu mọi sự mọi việc, nên họ không cần tìm ở bên ngoài mà vẫn thấy được chân tướng mọi sự mọi việc.
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 41 Đạo Đức Kinh giới thiệu về phương pháp “Nội Quán” và cho rằng đó là phương tiện ưu việt nhất trong việc tìm hiểu  chân lý.
 
 
CHƯƠNG 42
 
HÁN VĂN
 
Thánh nhơn vô thường tâm
Dĩ bách tánh tâm vi tâm
 
Thiện giả ngô thiện chi
Bất thiện giả ngô diệc thiện chi
Đắc thiện hĩ
Tín giả ngô tín chi
Bất tín giả ngô diệc tín chi
Đắc tín hĩ
 
Thánh nhơn tại thiên hạ
Hấp hấp vi thiên hạ hồn kỳ tâm
Bách  tánh giai chú kỳ nhĩ mục
Thánh nhơn giai hài chi
 
DỊCH NGHĨA
 
Lòng của Thánh nhơn thường thay đổi
Vì lấy cái lòng của trăm họ làm lòng của mình
 
Với kẻ lành thì lấy lành mà ở
Với kẻ chẳng lành cũng lấy lành mà ở
Nên được lành vậy
Với kẻ thành tín thì lấy thành tín mà ở
Với kẻ không thành tín cũng lấy thành tín mà ở
Nên được thành tín vậy
 
Thánh nhơn lo cho hiên hạ
Mà không để lòng lộ ra
Trăm họ đều chú tai mắt
Thánh nhơn xem thẩy như con mình
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Lòng của …của mình” : Các Bậc Thượng Thiện thường lấy nhu cầu, lợi ích của trăm họ làm nhu cầu, lợi ích của mình để hết lòng đáp ứng nhu cầu, lợi ích ấy. Bậc Thượng Thiện luôn sống vì người khác mà không vì  bản thân mình.
Đoạn hai : “ Với kẻ…thành tín vậy” : Thượng Thiện nhơn đối xử bình đẳng với tất cả mọi người, người lành, dữ, tốt,  xấu, thành tín hay bất tín, Thiện nhơn đều cư xử “phải Đạo” như nhau. Đây là tâm “Vô phân biệt” (trong Phật Giáo) mà Lão Tử gọi là “cái Một”.
Quan niệm thông thường của người đời là “ Dent pour dent, oeil pour oeil”  hay “ A tooth for a tooth” “An eye for an eye” (Răng trả răng, mắt trả mắt) Thành ngữ Việt Nam là “Ăn miếng trả miếng”  Ai đối xử với ta thế nào, ta sẽ đối xử với họ như vậy.
Đối với người hiểu Đạo, điều này không đúng. Việc làm của mỗi người (thuật ngữ Phật Giáo gọi là Nghiệp)mỗi người tự chịu trách nhiệm với việc làm của mình (Nhân-Quả tương ưng) không ai chịu trách nhiệm với việc làm của người khác và cũng không ai có quyền thưởng hay phạt về hành vi của người khác ngoại trừ Luật Pháp và luật Công Bình (Nhân-Quả) của tự nhiên. Ai vi phạm điều này,( tức “Ăn miếng trả miếng”) là vi phạm Luật Pháp và Luật Công Bình.
Vì thế người biết Đạo luôn lấy ân Đức mà đối xử với tất cả người tốt và người xấu, nên người Sống Đạo luôn bình an thanh thản vậy.
Đoạn ba : “ Thánh nhơn…con mình”  Thánh nhơn quan tâm đến mọi người trong thiên hạ, lo cho thiên hạ như con mình, mà không để cho ai biết được tấm lòng của mình, làm với tâm không cần ai biết, không cầu báo đáp.
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 42 Lão Tử quan niệm cư xử ở đời với tâm bình đẳng (cái Một) với mọi người, trong mọi trường hợp. Thánh nhơn là người luôn sống vì và cho người khác một cách vô vụ lợi. Tình thương của Thánh nhơn đối với mọi người sâu thẳm mênh mông như tình Mẹ thương Con.
 
 
CHƯƠNG 43
HÁN VĂN
 
Tri giả bất ngôn
Ngôn giả bất tri
 
Tắc kỳ đoài, bế kỳ môn
Toả kỳ nhuệ, giải kỳ phân
Hoà kỳ quang, đồng kỳ trần
Thị vị huyền đồng
 
Cố
Bất khả đắc nhi thân
Bất khả đắc nhi sơ
Bất khả đắc nhi lợi
Bất khả đắc nhi hại
Bất khả đắc nhi quý
Bất khả đắc nhi tiện
Cố
Vi thiên hạ quý
 
                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                 DỊCH NGHĨA

 
Người biết thì không nói
Người nói thì không biết
 
Thường ngậm miệng
Bịt mắt tai
Nhụt bén nhọn
Bỏ chia phân
Hoà ánh sáng
Đồng bụi bặm
Ấy gọi là huyền đồng
 
Thế nên
Không thể lấy chỗ thân mà được
Không thể lấy chỗ sơ mà được
Không thể lấy chỗ lợi mà được
Không thể lấy chỗ hại mà được
Không thể lấy chỗ thể lấy chỗ quý mà được
Không thể lấy chỗ tiện mà được
Vì vậy
Dưới trời không có gì quý hơn
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một :  “Người biết…không biết” : Thiên hạ thường hay nói nhiều vì những nguyên nhân khác nhau : Hoặc muốn người khác phải chú ý đến mình, hoặc cố ý khoe khoang sự hiểu biết của mình khiến người khác phải nể phục để tìm danh lợi, hoặc bắt người khác phải làm theo ý mình, hoặc không chịu được những bức xúc trong lòng phải nói ra hả…Tất cả những điều này đều xuất phát từ sự VÔ MINH (mê mờ) của tâm trí. Những người Nói vì những động cơ này là những Người Không Biết. Bậc Thượng Trí (người biết) thì không nói vì những động cơ như vậy. Bậc Trí Tuệ có tâm Từ Bi bao la coi mọi người như con mình nên chỉ nói vì tấm lòng của người Mẹ thương con.
Đoạn hai : “Thường ngậm miệng…huyền đồng” . Người hiểu biết thường cẩn ngôn : “Thủ khẩu như bình” uốn lưỡi bẩy lần trước khi nói, để tránh sai sót hay bất lợi cho người, cho mình, vì nói nhiều lỗi nhiều, nói ít lỗi ít, không nói không lỗi (Tuy nhiên, điều cần nói phải nói. Nếu không thì cũng mắc lỗi).
“Bịt mắt tai” để không nghe chuyện thị phi, phải trái của thiên hạ
“Nhụt bén nhọn. Bỏ phân chia. Hoà ánh sáng. Đồng bụi bặm”. Đây là thái độ sống theo Đạo Trung Dung của Lão Tử (không thái quá, không bất cập) hay là Trung Đạo của Đức Phật.
“Ấy gọi là huyền đồng” Huyền Đồng là trạng thái Trung Dung hoàn hảo, là chỗ đến của bậc đạt Đạo, là nơi mà sự sống tồn tại lâu dài .HUYỀN ĐỒNG là cái đích đến cao nhất của đạo Lão.
Đoạn ba : “Thế nên…mà được” Không thể  chấp nhận những chỗ thái quá hay bất cập.
Đoạn bốn : “ Vì vậy…quý hơn” Huyền Đồng là chân lý cao quý nhất.
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 43 đề cập “Chỗ đến” của Đạo theo Lão Tử. Đó là trạng thái HUYỀN ĐỒNG . Trạng thái của sự Trung Dung hoàn hảo khiến cho sự sống được trường cửu.
 
 
CHƯƠNG 44
HÁN VĂN
 
Vi Vô Vi
Sự vô sự
Vị vô vị
Đại tiểu, đa thiểu
Báo oán dĩ Đức
 
Đồ nan ư kỳ dị
Vi đại ư kỳ tế
Thiên hạ nan sự
Tất tác ư dị
Thiên hạ đại sự
Tất tác ư tế
 
Thị dĩ thánh nhơn
Chung bất vi đại
Cố
Năng thành kỳ đại
Phù khinh nặc
Tất quả tín
Đa dị tất đa nan
Thị dĩ
Thánh nhơn do nan chi
Cố
Chung vô nan hỹ
 
DỊCH NGHĨA
 
Làm cái “không làm”
Lo điều “không lo”
Nếm mà “không mùi”
Lớn nhỏ, nhiều ít như nhau
Lấy Đức báo oán
 
Làm việc khó, bắt nơi chỗ dễ
Làm việc lớn, bắt nơi chỗ nhỏ
Việc khó trong đời, khởi nơi chỗ dễ
Việc lớn trong đời, khởi nơi chỗ nhỏ
 
Bởi vậy Thánh nhơn
Suốt đời không làm chi lớn
Nên mới thành được việc lớn
Kẻ hứa dễ, ít tin được
Kẻ xem gì cũng dễ, ắt gặp nhiều cái khó
Vậy nên
Bậc Thánh nhơn xem việc gì cũng khó
Nên trọn đời không gặp gì khó cả.
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Làm cái… báo oán” Thánh nhơn sống Vô vi, Vô sự, Vô vị, Vô phân biệt. Hành Đạo và giữ Đức.
Đoạn hai : “Làm việc khó…chỗ nhỏ” luôn sống theo theo nguyên tắc “ Thuận Tiến” nghĩa là từ dễ tiến đến khó, từ nhỏ tiến đến lớn…
Đoạn ba : “ Bởi vậy… khó cả” Thánh nhơn luôn tuân thủ nguyên tắc “Thuận Tiến” luôn thận trọng trong mọi việc làm để tránh sơ sẩy. Kẻ thấy mọi việc dễ dàng đối với họ, thường chủ quan, tự tin thái quá, khinh xuất, ít cẩn trọng, nên có nguy cơ thất bại. Vì vậy, kẻ dễ dàng hứa (vì chủ quan) khó tin được. Kẻ khinh xuất dễ thất bại. Thánh nhơn cẩn trọng trong tất cả mọi việc nên trọn đời không gặp khó khăn.
 
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 44 nhắc lại những nguyên tắc của Đạo và Đức đã được đề cập, đồng thời lưu ý về đức tính thận trọng trong mọi sự mọi việc.
 
CHƯƠNG 45
 
HÁN VĂN
 
Thiện vi sĩ giả bất vũ
Thiện chiến giả bất nộ
Thiện thắng địch giả bất dữ
 
Thiện dụng nhơn giả vi chi hạ
Thị vị bất tranh chi Đức
Thị vị dụng nhơn chi lực
Thị vị phối thiên cổ chi cực
 
DỊCH NGHĨA
 
Người có tri thức không dùng vũ lực
Người chiến đấu giỏi không giận dữ
Khéo thắng địch là không tranh với đó
 
Khéo dùng người là hạ mình giúp đó
Đó là cái Đức của sự không tranh
Đó là cái thuật của sự dùng người
Đó là hợp với chỗ cùng cực của Đạo Trời vậy.
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Người có tri thức  …với đó” : “Người có tri thức không dùng vũ lực”.  Người có tri thức giải quyết mọi mâu thuẫn không dựa trên vũ lực. Trong  gia đình dùng vũ lực gọi là bạo hành. Ngoài xã hội dùng vũ lực gọi là lưu manh, côn đồ. Ở bình diện Quốc gia, dùng vũ lực là chiến tranh, là khủng bố…
Đánh nhau  dù ở hình thức nào, ở cấp độ nào cũng đều là hạ sách. Kẻ thắng trận lẫn bại trận đều chịu ít nhiều thiệt hại về nhân lực, vật lực và tài lực. Bên thắng bị chuốc thêm oán hờn của kẻ bị thua và tiềm ẩn hung hoạ của một sự trả thù. Vì vậy, một chiến thắng lâu dài, bền vững không thể dùng vũ lực, mà phải sử dụng phương tiện khác để tránh hậu quả của chiến tranh.
“Người chiến đấu giỏi không giận dữ”  Bình tĩnh là yếu tố cần thiết để có sự sáng suốt, khôn ngoan. Trong chiến đấu, khôn ngoan và sáng suốt thường là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công. Vì vậy người chiến đấu giỏi không mắc phải sai lầm là chiến đấu trong giận dữ. Vì giận dữ làm cho họ mất bình tĩnh, sáng suốt và sự khôn ngoan cần có.
“Khéo thắng địch là không tranh với đó” Dùng vô vi (thuận theo Quy Luật Tự Nhiên ) thì bất chiến tự nhiên thành.
Đoạn hai : “Khéo dùng người…Đạo Trời vậy” . Dùng người là sự kết hợp của luật “Bất cảm vi thiên hạ tiên” và “Bất tranh nhi thiện thắng”. Những điều này hợp với sự cùng cực của Đạo Trời là Vô Vi, là Huyền Đồng vậy.
 
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 45 Ứng dụng Vô Vi và những quy luật khác vào đời sống cụ thể khi cần giải quyết những mâu thuẫn hoặc giao tiếp với người (dùng người).
 
                                         
                                          CHƯƠNG 46
 
HÁN VĂN
 
Ngô ngôn
Thậm dị tri
Thậm dị hành
Thiên hạ
Mạc năng tri
Mạc năng hành
Ngôn hữu tông
Sự hữu quân
 
Phù duy vô tri
Thị dĩ bất ngã tri
Tri ngã giả hy
Tắc ngã giả quý
Thị dĩ Thánh nhơn
Bị hạt hoài ngọc
 
DỊCH NGHĨA
 
Lời của ta rất dễ hiểu, rất dễ làm
Thế mà, thiên hạ không hay hiểu, không hay làm
Lời của ta có gốc
Việc của ta có chủ
 
Vì thiên hạ không hiểu được cái chỗ đó
Nên không hiểu được ta
Hiểu ta, ít kẻ
Nên ta mới quý
 
Vì vậy bậc Thánh nhơn
Ngoài mặc bô vải, mà lòng đầy châu ngọc.
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Lời của ta…có chủ” . Chữ “TA” dùng ở đây có ý nghĩa là ĐẠO, chứ không dùng chỉ một cá nhân nào. “Lời có gốc, việc có chủ” ý nói Đạo là một sự thực tự nhiên, Lão Tử chỉ trình bày lại những gì đã xảy ra và tồn tại trong vũ trụ. Theo Lão Tử thì Đạo là điểu dễ hiểu và dễ làm nhưng thiên hạ lại không hay hiểu, không hay làm.
Đoạn hai : “ Vì thiên hạ…mới quý”  Thiên hạ ít người hiểu được Đạo (Chân lý) vì vậy Đạo mới quý. (Vì con người chạy theo lòng tham nên khởi si mê, sân hận, sống theo kiểu lợi dụng, vô ơn và ích kỷ nên thường hành động ngược lại với Luật Tự Nhiên, vì Tự Nhiên thì luôn  vị tha, biết ơn và lợi người )
Đoạn ba : “ Vì vậy…đầy châu ngọc”. Bậc Thánh Nhơn sống vị tha nên không giàu có (mặc bô vải) nhưng tâm hồn họ là một kho châu báu (lòng đầy châu ngọc)
 
 TỔNG LUẬN
 
Chương 46 nêu lên ý nghĩa cao quý của Đạo để nhắc mọi người sống theo.
 
 
 
CHƯƠNG 47
 
HÁN VĂN
 
Tri bất tri thượng
Bất tri tri bệnh
 
Phù duy bệnh bệnh
Thị dĩ bất bệnh
 
Thánh nhơn bất bệnh
Dĩ kỳ bệnh bệnh
Thị dĩ bất bệnh
 
DỊCH NGHĨA
Cách 1
 
Biết được (cái thiên hạ không thể biết ) thì cao
Không biết cái có thể biết là bất bình thường (bệnh)
 
Biết đó là “bệnh”
Thì không “bệnh” nữa
Thánh nhơn không “bệnh”
Vì biết “bệnh” là “bệnh”
Nên không “bệnh” nữa
 
Cách 2 :
           Biết mà tự cho là không biết  thì  là cao nhân
       Không biết mà tự cho là biết, thì sai lầm
 
Biết đó là sai (bệnh)
Thì không sai nữ
Thánh nhơn không sai
Vì biết sai là sai
Nên không sai nữa
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : Theo ngữ pháp, nếu hiểu theo cách một là : “Tri bất Tri, thượng. Bất tri tri, bệnh” thì có nghĩa là “Biết được cái thiên hạ không thể biết thì cao. Không thể biết cái mọi người đều biết là bất bình thường.”
Hiểu theo cách hai : “Tri, bất tri, thượng. Bất tri, tri, bệnh” có nghĩa là : “Biết mà tự cho là không biết thì là Bậc  cao nhân. Không biết mà tự cho là biết thì là sai lầm”.
Đoạn hai : Từ “bệnh” hiểu là bất bình thường hoặc sai lầm.
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 47 nói về sự khác biệt giữa kẻ ngu và người Trí
 
CHƯƠNG 48
 
HÁN VĂN
 
Hoà đại oán, tất hữu dư oán
An khả dĩ vi thiện
 
Thị dĩ Thánh nhơn
Chấp tả khế nhi bất trách ư nhơn
 
Hữu Đức tư khế
Vô Đức tư triệt
 
Thiên đạo vô thân
Thường dữ thiện nhơn
 
DỊCH NGHĨA
 
Hoà được oán lớn vẫn còn oán thừa
Sao cho thế là phải ?
 
Ấy nên Thánh nhơn
Cầm tờ hợp ước bên trái mà không trách người
 
Kẻ Đức thì hợp lại
Người không Đức thì phân ra
 
Đạo trời không thân ai
Thường gia ân cho người lành
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Hoà được…là phải”  Thiên hạ thường kết oán với nhau ra mặt, khi thù oán tạm được giải quyết thì dư oán của nó vẫn còn để lại chưa thể xoá sạch. Người đời cho như thế là tốt rồi, nhưng Thánh nhân thấy  rằng dù chỉ còn dư oán thì vẫn là còn “oán”
Đoạn hai : “ Ấy nên…trách người” . Trong bất kỳ trường hợp nào, Thánh nhơn cũng không kết oán với người khác, ngay cả khi Thánh nhơn phải chịu thiệt thòi vì sự sai quấy của người khác.
Đoạn ba : “ Kẻ Đức…phân ra” Người biết Đạo, có Đức thì thấy hết thẩy mọi người là bạn bè (hợp lại) Người không biết Đạo thì vô Đức, không dễ chấp nhận người khác, nên sinh tâm phân biệt có yêu có ghét, có bạn có thù. (phân ra)
Đoạn bốn : “ Đạo Trời…người lành” Các quy luật tự nhiên (Đạo Trời) tác động lên tất cả vạn vật trong vũ trụ một cách tự động và máy móc, không phân biệt. Vì vậy, nên nói “không thân ai”.
“Thường gia ân cho người lành” . Thật ra, đây chỉ là lẽ tự nhiên của luật Nhân-Quả tương ưng (ở hiền gặp lành)
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 48 khuyên người không nên sống với tâm phân biệt. Luật Trời luôn đối xử công bình với tất cả mọi người mọi vật theo những nguyên tắc chung.  

 
 
 
CHƯƠNG 49
 
HÁN VĂN
 
Tín ngôn bất mỹ
Mỹ ngôn bất tín
Thiện giả bất biện
Biện giả bất thiện
Tri giả bất bác
Bác giả bất tri
 
Thánh nhơn bất tích
Ký dĩ vi nhơn kỷ dũ hữu
Ký dĩ dữ nhơn kỷ dũ đa
Thiên chi Đạo, lợi chi bất hại
Thánh nhơn chi Đạo, vi nhi bất tranh
 
DỊCH NGHĨA
 
Lời thành thực không hoa mỹ
Lời hoa mỹ thường không thành thực
Người “thiện” thường không tranh biện
Người tranh biện thường không “thiện”
Người trí tuệ  không cần kiến thức rộng
Người kiến thức rộng chưa chắc đã có trí tuệ
 
Bậc Thánh nhơn không thu giữ
Càng vì người, mình càng thêm có
Càng cho người, mình càng thêm nhiều
Đạo của Trời, lợi mà không hại
Đạo của Thánh nhơn, làm mà không tranh.
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Lời thành thực…trí tuệ”. Lời thành thực không cần hoa mỹ vì bản thân nó đủ giá trị cho người khác tin tưởng. Lời không thành thực thường phải nói hay nói đẹp lòng người để khiến người khác phải tin theo. Người chơn chánh thường không phân bua tranh biện để người khác hiểu mình, vì điều đó không cần thiết. Người hay phân trần biện giải thường không chơn chánh, vì vậy họ phải cần lấy lời lẽ để khéo nói cho mình. Người trí tuệ (hiểu Đạo) có thể không cần biết nhiều kiến thức thế gian. Người biết nhiều kiến thức tổng quát chưa chắc là người trí tuệ (hiểu Đạo).
Đoạn hai : “Bậc Thánh nhơn…không tranh” Bậc Thánh nhơn hành xử theo Đạo Vô Vi “Vị tha chính là vị kỷ” . Vì vậy, Thánh nhơn luôn làm lợi cho người khác mà bản thân được lợi, luôn sống cho người khác mà bản thân được thành tựu.
 
 TỔNG LUẬN
 
Chương 49 nhấn mạnh : những giá trị thực thường không cần tô điểm, làm đẹp hay quảng cáo như những giá trị giả. Trí tuệ không dựa vào kiến thức mà có, cũng như kiến thức không đem lại Trí tuệ.
 
 
CHƯƠNG 50
 
HÁN VĂN
 
Vi học nhật ích
Vi Đạo nhật tổn
Tổn chi hựu tổn
Dĩ chí ư vô vi
 
Vô vi nhi Vô Bất Vi
         Thủ thiên hạ thường dĩ vô sự
    Cập kỳ hữu sự bất túc dĩ
                    Thủ thiên hạ
 
DỊCH NGHĨA
 
Theo học, càng ngày càng thêm
Theo Đạo, càng ngày càng bớt
Bớt rồi lại bớt
Đến mức vô vi
 
Không làm mà không gì là không làm
Thường dùng “Vô Vi” thì được Thiên hạ
Bằng dùng “hữu vi” thì không đủ trị thiên hạ
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Theo học…Vô Vi” :Cái học của người đời là làm ngược lại với tự nhiên, nên càng học nhiều càng làm nhiều điều theo ý con người (trái tự nhiên). Hiểu Đạo càng sâu càng sống thuận tự nhiên, bớt theo ý con người, Sống Đạo là bớt đến mức Vô Vi.
Đoạn hai : “ Không làm …thiên hạ”  Không Làmkhông có nghĩa là ở không, không làm gì, mà có nghĩa là không làm trái tự nhiên, nhưng thuận theo tự nhiên mà làm tất cả mọi việc.Như vậycuộcsống của thiên hạ mới được ổn định. Nếu dùng “hữu vi” thì trước sau gì thiên hạ cũng rối loạn.
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 50 giải thích rõ ràng về từ “VÔ VI” và sự hữu dụng của nó trong việc ổn định cuộc sống của con người.
 

 C . CÁC NGUYÊN TẮC CAI TRỊ QUỐC GIA

 
CHƯƠNG 51
 
HÁN VĂN
 
Bất thượng hiền
Sử dân bất tranh
Bất quý nan đắc chi hoá
Sử dân bất vi đạo
Bất kiến khả dục
Sử dân tâm bất loạn
 
Thị dĩ Thánh nhơn chi trị
Hư kỳ tâm
Thực kỳ phúc
Nhược kỳ chí
Cường kỳ cốt
Thường sử dân vô tri vô dục
Sử phù trí giả bất cảm vi dã
 
Vi Vô Vi
Tắc vô bất trị
 
DỊCH NGHĨA
 
Không tôn bậc hiền tài, khiến cho dân không tranh giành
Không quý của khó đặng, khiến cho dân không trộm cướp
Không phô điều ham muốn, khiến cho lòng dân không loạn
 
Vì vậy, cái trị của thánh nhơn (là làm cho dân ):
 Hư lòng (lòng trống không không mưu toan thủ đoạn).
 No dạ (no cơm ấm áo)
 Yếu chí ( không bất mãn, chống đối nhiều )
 Mạnh xương (nhiều sức khoẻ)
Thường khiến cho dân không biết, không ham
Khiến cho kẻ trí không dám dùng đến cái khôn của mình.
 
Làm theo vô vi
Ắt không có gì là không trị
 
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Không tôn …không loạn” : Nhà nước khéo trị dân là không nên làm những điều khêu gợi lòng tham danh, tham lợi, tham tiền tham của, kích động những ham muốn trong lòng người, thì lòng dân không loạn.
Đoạn hai : “Vì vậy…của mình” Nhà nước khéo trị dân là làm cho dân no cơm ấm áo,  ít điều chống đối, không toan tính mưu mô (chống lại luật pháp),và an khang, khoẻ mạnh. Như vậy, ngay cả những kẻ nhiều thủ đoạn cũng không dám dùng đến cái “khôn ngoan” của mình mà quậy phá.
Đoạn ba: “Làm theo…không trị”  Trị nước theo các quy luật tự nhiên (Vô Vi) thì không gì là không trị được.
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 51 chỉ ra những điều nhà nước tránh làm và cần làm để an dân, và trị dân theo Vô Vi.
 
 
CHƯƠNG 52
 
HÁN VĂN
 
Thiên địa bất nhân
Dĩ vạn vật vi sô cẩu
Thánh nhơn bất nhân
Dĩ bá tánh vi sô cẩu
 
Thiên địa chi gian
Kỳ du thác thược hồ !
Hư nhi bất khuất
Động nhi dũ xuất
 
Đa ngôn sổ cùng
Bất như thủ trung
 
DỊCH NGHĨA
 
Trời đất không có nhân
Coi vạn vật như loài chó rơm
Thánh nhơn không có nhân
Coi trăm họ như loài chó rơm
 
Cái khoảng giữa Trời Đất
Giống như ống bễ
Tuy trống không mà vô tận
Càng động lại càng hơi ra
 
Càng nói nhiều càng không sao nói hết được
Thà là giữ lấy cái Trung.
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Thiên địa…chó rơm” . Các từ “bất nhân” ở đây phải hiểu là lòng thiên vị riêng tư. “Chó rơm” phải hiểu là hình nộm. Ý của đoạn này nói là : “Trời đất” (các quy luật tự nhiên) cũng như Thánh nhơn coi hết thẩy mọi người mọi vật giống nhau, giống như những hình nộm nên không thiên vị riêng tư cho bất kỳ ai, bất kỳ vật gì.
Đoạn hai : “Cái khoảng …hơi ra”: Ví dụ về cái “Dụng” của Trời Đất giống như cái ống bễ của thợ rèn, tuy trống không nhưng hoạt động một hô một hấp (càng động lại càng hơi ra) khiến từ cái không ấy, sinh ra vạn vật hiện tượng.
Đoạn ba: “ Càng nói…cái Trung” . Nói chi tiết thì vô cùng. Tóm lại chỉ cần giữ Đạo Trung Dung mà hành xử là thuận lẽ Trời.
 
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 52 nói về hoạt động vô cùng của vũ trụ. Trời đất cũng như Thánh nhơn thì luôn khách quan, không thiên vị ai hay điều gì. Muốn trường tồn thì phải sống theo Đạo Trung Dung.
 
CHƯƠNG 53
 
HÁN VĂN
 
Tải doanh phách bão nhất
Năng vô ly hồ ?
Chuyên khí trí nhu
Năng anh nhi hồ ?
Địch trừ huyền lãm
Năng vô tỳ hồ ?
 
Ái dân trị quốc
Năng vô vi hồ ?
Thiên môn khai hạp
Năng vô thư hồ ?
Minh bạch tứ đạt
Năng vô tri hồ ?
 
Sanh chi súc chi
Sanh nhi bất hữu
Vi nhi bất thị
Trưởng nhi bất tể
Thị vị huyền đức
 
DỊCH NGHĨA
 
Làm cho hồn phách hiệp một
Không thể chia lìa, đặng không ?
Làm cho hơi thở tụ lại
Như trẻ sơ sanh, đặng không ?
Gột rửa lòng ham huyền diệu
Đừng còn chút bợn, đặng không ?
 
Thương dân, trị nước
Mà làm như không làm, đặng không
Hiểu biết tất cả
Mà làm như không biết gì cả, đặng không ?
 
Sanh đó, nuôi đó
Sanh mà không chiếm cho mình
Làm mà không cậy công
Làm bậc lớn mà không làm chủ
Đó gọi là Huyền Đức
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Làm cho…đặng không ?” Đây là lời khuyên về đạo dưỡng sinh : Lòng trong sạch không nhơ bợn bởi những tham lam, sân hận, si mê…, điều hoà hô hấp (giữ hơi tụ khí đan điền) như trẻ sơ sinh khiến cho tinh thần không loạn, thân thể không đau, “Hồn phách” (Âm Dương) hợp nhất, thân và tâm kết hợp với nhau trong sự quân bình, ổn định để thân thể khang kiện, tinh thần an vui.
Đoạn hai : “Thương dân…đặng không”  Dùng thuật Vô Vi mà trị nước.
Đoạn ba : “ Sanh đó…Huyền Đức” Vị tha và vô vụ lợi là những phẩm tính lớn của Đức. Làm được điều này được gọi là Huyền Đức (Đức sâu thẳm).
 
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 53 nói tóm lược về thuật Dưỡng Sinh và thuật trị nước theo Đạo.
 
 
CHƯƠNG 54
 
HÁN VĂN
 
Sủng nhục nhược kinh
     Quý đại hoạn nhược thân
 
Hà vị sủng nhục nhược kinh ?
      Sủng vi thượng, nhục vi hạ
              Đắc chi nhược kinh
           Thất chi nhược kinh
      Thị vị sủng nhục nhược kinh
 
Hà vị quý đại hoạn nhược thân
Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả
Vi ngô hữu thân
Cập ngô vô thân
Ngô hữu hà hoạn !
 
              Cố
Quý dĩ thân vi thiên hạ
Nhược khả ký thiên hạ
Ái dĩ thân vi thiên hạ
Nhược khả thác thiên hạ
 
 DỊCH NGHĨA
 
Vinh và Nhục đều là sợ hãi
   Quý và hoạn đều là vì có thân
 
Tại sao gọi Vinh và Nhục đều là sợ hãi ?
Là vì Vinh trên thì Nhục dưới
Được cũng sợ hãi
Mà mất cũng sợ hãi
Vì vậy mới gọi là “Vinh Nhục đều là sợ hãi”
 
Tại sao gọi “Quý và Hoạn đều là vì có thân ?”
Là vì, ta sở dĩ có lo lớn là vì ta có thân
Nếu ta không thân
Ta sao có lo !
 
Vậy kẻ nào biết quý thân vì thiên hạ
          Nên giao phó thiên hạ cho họ được
                         Kẻ nào biết thương thân vì thiên hạ
     Nên gởi gắm thiên hạ cho họ được.
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Vinh và Nhục…có thân” khẳng định những điều về Vinh và Nhục, Sang và hèn.
Đoạn hai : “ Tại sao…sợ hãi” giải thích lý do Vinh, Nhục đều là sợ hãi.“Trên Vinh, Nhục dưới” ý nói Vinh và Nhục thường đi liền với nhau như hình với bóng, Vinh Nhục, chỉ là do sự cảm nhận của người ta mà thôi.
Đoạn ba : “ Tại sao…có lo” giải thích Sang và hèn đều vì do có thân nên mới lo. Nếu không có thân (không nghĩ đến mình nữa) thì làm gì có lo.
Đoạn bốn : “ Vậy, kẻ nào…cho họ được” Kẻ nào biết quý thân mình, thương thân mình (tồn tại chỉ vì để phục vụ cho thiên hạ) thì là mới xứng đáng là những người chăn dắt muôn dân (gởi gắm thiên hạ cho họ)
 
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 54 nói về sự vị tha và vị kỷ. Người sống vị tha không lo lắng việc sang hèn, vinh nhục  và là người xứng đáng đứng đầu, cai trị  thiên hạ.
 
 
CHƯƠNG 55
 
HÁN VĂN
 
Thái thượng, hạ tri hữu chi
 
Kỳ thứ thân nhi dự chi
Kỳ thứ uý chi
Kỳ thứ vũ chi
Tín bất túc yên
       Hữu bất tín yên
 
              Du hề kỳ quý ngôn
                   Công thành sự toại
Bách tánh giai vị ngã tự nhiên
 
 
DỊCH NGHĨA
 
Đời thái sơ, dân chỉ biết có đấy
 
             Kế đó dân thân và khen đấy
        Kế đó dân sợ đấy
     Kế đó dân khinh đấy, dùng vũ lực đấy
Vì không đủ tin nên dân không tin
 
Bậc Thánh xưa quý lời nói
Làm xong công việc cho dân
Mà dân cứ tưởng “tự nhiên tự mình làm”
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Đời thái sơ, dân chỉ biết có đấy” :Đời thái sơ, dân biết có Vua Chúa, nhưng không hề cảm thấy mình bị cai trị.
Đoạn hai : “ Kế đó…không tin”. Qua thời Thượng Cổ, các bậc Vua Chúa vẫn còn hiền đức, nhưng dân bắt đầu thấy có khoảng cách, thứ bậc giữa Vua và dân. Dân vẫn còn tin tưởng yêu mến và ủng hộ.
Đến thời Trung Cổ, Vua Chúa ngày càng sử dụng “hữu vi” mà cai trị. Luật pháp đã rõ ràng, hình phạt đã nghiêm minh. Dân sợ mà tuân theo phép nước.
Thời cận đại và hiện đại, Đạo Đức của các nhà cầm quyền, Vua Chúa ngày càng sa sút, càng băng hoại. Nhân dân bắt đầu khinh khi và chống đối bằng vũ lực (nổi loạn).  Nhà cầm quyền, Vua Chúa không đáng tín nhiệm, không phải là những người dân chúng có thể tin cậy nên dân không tin nữa.
Đoạn ba : “ Bậc Thánh xưa … tự mình làm” Thánh nhơn xưa ít hứa hẹn, không khoe công trạng, làm xong việc cho bá tánh thì lẳng lặng tự nhiên như không hề làm gì. Bá tánh cứ tưởng mọi chuyện tự nhiên mà thành tựu.
 
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 55 so sánh việc trị nước của các Vua Chúa qua các thời kỳ lịch sử. Thuở thái sơ Vua Chúa cai trị bằng Vô Vi. Sau đó Đạo Đức dần xuống cấp, Vua Chúa càng ngày càng dùng đến Hữu Vi nhiều hơn.
Văn Trung Tử cũng nhận định như sau :

Cường quốc chiến binh. Bá quốc chiến trí. Vương quốc chiến nghĩa. Đế quốc chiến Đức. Hoàng Quốc chiến Vô Vi” (Cường quốc dùng vũ lực mà tranh. Bá quốc dùng Trí (chiến thuật, chiến lược) mà tranh. Vương quốc dùng nhân nghĩa mà tranh. Đế quốc dùng ân đức mà tranh. Hoàng quốc thì dùng Vô Vi mà tranh). Các từ Cường quốc, Bá quốc, Vương quốc, Đế quốc, Hoàng quốc chỉ là xếp loại quốc gia theo tiêu chuẩn của Đạo Đức. 
                                                                                                                                  CHƯƠNG 56

 
HÁN VĂN
 
Đại đạo phế, hữu nhân nghĩa
Huệ trí xuất , hữu đại nguỵ
 
Lục thân bất hoà hữu hiếu từ
Quốc gia hôn loạn hữu trung thần
 
 
DỊCH NGHĨA
 
Đạo lớn mất mới có nhân nghĩa
Trí xảo sanh mới có dối trá tinh vi
 
Lục thân chẳng hoà mới có hiếu từ
Nước nhà rối loạn mới có tôi ngay
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Đạo lớn…dối trá” Trong xã hội khi Nhân Nghĩa được đề cao là lúc Đạo lớn đã mất. Trí  xảo con người xuất hiện mới có những sự dối trá tinh vi. ( Từ “Trí huệ” dùng ở đây được hiểu là “Trí gian xảo” )
Đoạn hai : “Lục thân…tôi ngay” Khi xã hội đề cao con hiếu, tôi trung là lúc nền tảng gia đình lung lay, quốc gia không còn an bình thịnh trị.
 
 TỔNG LUẬN
 
Chương 56 nêu lên nhận định rằng : Người ta luôn nói đến và đề cao những gì người ta còn thiếu hay không có. Khi Xã hội tuyên dương các đức tính Trung Hiếu Nhân Nghĩa là lúc quốc gia ấy, dân chúng ấy đang lâm vào tình cảnh suy vi.
 
CHƯƠNG 57
 
HÁN VĂN
 
Tuyệt khánh khí trí
Dân lợi bách bội
 
Tuyệt nhân khí nghĩa
Dân phục hiếu từ
 
Tuyệt xảo khí lợi
Đạo tặc vô hữu
 
Thử tam giả, dĩ
Vi văn bất túc
 
Cố lịnh hữu sở chúc
Kiến tố bão phác
Thiểu tư quả dục
 
DỊCH NGHĨA
 
Dứt thánh bỏ trí
Dân lợi trăm phần
 
Dứt Nhân bỏ Nghĩa
Dân lại thảo lành
 
Dứt xảo bỏ lợi
Trộm cướp không có
 
Dứt ba khoản đó
Có đủ vào đâu
 
Phải được như vầy
Ăn ở giản dị và chất phác
Ít riêng tây
Ít tham dục
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Dứt Thánh…vào đâu”  Các đặc tính : Thánh, Trí, Nghĩa, Nhân, Lợi, Xảo đều có những đặc tính tương phản với nó. Hễ có cái này thì cái kia xuất hiện. Cho nên, khi tâm người đã có sự phân biệt, tôn vinh cái này, thì cái đối kháng với nó sẽ hiện ra để chống đối. Lão Tử nói, cho dù dứt được những điều như vậy vẫn chưa đủ.
Đoạn hai : “ Phải được…tham dục” : Lòng ích kỷ “riêng tây” và tham lam “tham dục” là những yếu tố quan trọng và chủ yếu làm cho cuộc sống con người trở nên bất an và đau khổ. Được như vậy thì tâm hồn con người mới giản dị, thuần hậu, chất phác và mới tạo nên một cảnh giới an bình.
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 57 nói về sự cần thiết phải loại trừ tâm phân biệt. Ngoài ra con người phải diệt trừ sự tham lam và ích kỷ thì mới mong tạo lập được hạnh phúc ở đời.
 
CHƯƠNG 58
 
HÁN VĂN
 
Trọng vi khinh căn
Tịnh vi táo quân
 
Thị dĩ thánh nhơn chung nhật
Hành bất ly tri trọng
Tuy hữu vinh quan
Yến xử siêu nhiên
 
Nại hà vạn thặng chi chủ
Nhi dĩ thân khinh thiên hạ
Khinh tắc thất bổn
Táo tắc thất quân
 
DỊCH NGHĨA
 
Nặng là rễ, gốc của nhẹ
Tịnh là chủ của náo loạn
 
Vậy nên Thánh nhơn suốt ngày
Làm mà không rời sự cẩn trọng
Tuy sống trong vinh hoa
Mà hành xử vượt lên trên tự nhiên
 
Vì sao Vua nước vạn thặng
Vì bản thân mình mà xem nhẹ thiên hạ ?
Xem nhẹ thì mất gốc
Náo loạn thì mất chủ
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Nặng là rễ…náo loạn” Nguyên lý Ngọn Gốc Tương Phản của tất cả mọi sự mọi vật : Phàm cái gì Thành cũng phải bắt đầu từ sự ngược lại.
Đoạn hai : “ Vậy nên…tự nhiên” Thánh nhơn vì muốn được “ngọn” nên luôn phải giữ “gốc”. Đó là cách hành xử “siêu nhiên” mà ít người biết được.
Đoạn ba : “ Vì sao…mất chủ” Đoạn này cảnh báo các bậc Quân vương. Muốn tồn tại ở ngôi vị của mình thì không nên ích kỷ mà xem thường dân chúng . Vì dân là “gốc” vua chỉ là “ngọn” . Không giữ gốc ắt mất ngọn vậy.
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 58 nhắc lại ý : Muốn ở “ngọn” thì phải giữ “gốc”. Muốn yên ổn ở ngôi vị cao thì phải trân trọng, chăm sóc những phần bên dưới của mình cho thật cẩn thận.
 
CHƯƠNG 59
 
HÁN VĂN
 
Tri kỳ hùng
Thủ kỳ thư
Vi thiên hạ khê
Vi thiên hạ khê, thường đức bất ly
Phục quy ư anh nhi
 
Tri kỳ bạch
Thủ kỳ hắc
Vi thiên hạ thức
Vi thiên hạ thức, thường đức bất thắc
Phục quy ư vô cực
 
Tri kỳ Vinh
                                                                  Thủ kỳ Nhục
Vi thiên hạ cốc
Vi thiên hạ cốc, thường đức nãi túc
Phục quy ư phác
 
Phác tán tắc vi khí
Thánh nhơn dụng chi tắc vi quan trưởng
Cố đại chế bất cát
 
DỊCH NGHĨA
 
Biết như con Trống,
Giữ như con Mái
Làm khe nước cho thiên hạ
Làm khe nước cho thiên hạ, Hằng theo Đức mà không lìa
Lại trở về trẻ thơ
 
Biết trắng, giữ  đen
Làm khuôn mẫu cho thiên hạ
Làm khuôn mẫu cho thiên hạ, Hằng theo Đức mà không sai
Lại trở về vô cực
 
Biết Vinh, giữ nhục
Làm hang sâu cho thiên hạ
Làm hang sâu cho thiên hạ, Hằng theo Đức mới đầy đủ
Lại trở về mộc mạc
 
Mộc mạc, tán ra, sinh đủ hạng người
Thánh nhơn dùng hạng tài năng
Phong làm quan trưởng
Nên phép trị lớn không chia
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Biết như…mộc mạc” Đoạn này gồm ba ý : “Biết như…trẻ thơ”  Nguyên lý “Ở ngọn phải giữ gốc”. Thực hùng mạnh như con trống phải ra vẻ mềm yếu như con mái. Là người lãnh đạo phải phục vụ quần chúng của mình, phải là nương tựa trông cậy của quần chúng, giống như khe nước là nguồn nước cho thiên hạ. Tâm hồn phải trong sạch như trẻ thơ để luôn giữ được cái Đức của Đạo.
Ý hai : “ Biết Trắng …vô cực” : Thánh nhơn phải là người đầy đủ phảm chất của Đức để làm mẫu mực cho thiên hạ, hòng sau này có thể trở về ngôi Vô Cực.
Ý ba : “ Biết vinh…mộc mạc” Thánh nhơn là nơi thiên hạ có thể nương nhờ, có thể trú ẩn khi nguy cấp (như hang sâu che chở). Giữ được Đức  và luôn sống thanh tịnh, mộc mạc.
Đoạn hai : “ Mộc mạc…không chia” Thánh nhơn, tâm hồn thuần khiết, mộc mạc, vô vụ lợi, nên tuỳ theo năng lực đức độ của mỗi người mà bổ nhiệm vào những chức vụ phù hợp, để phục vụ dân chúng. Dùng người đúng nơi đúng lúc, đúng chỗ không phân biệt thân sơ, bè phái, yêu ghét…
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 59 nói về phẩm chất, tư cách của người lãnh đạo gương mẫu, lý tưởng. Người này phải là Bực Thánh Nhơn sống Đạo và giữ Đức.
 
CHƯƠNG 60
 
HÁN VĂN
 
Dĩ Đạo tá nhơn chủ giả
Bất dĩ binh cưỡng thiên hạ
Kỳ sự hảo hườn
Sư chi sở xử
Kinh cức sanh yên
Đại quân chi hậu
Tất hữu hung niên
 
Cố, thiện hữu quả nhi dĩ
Bất cảm dĩ thủ cường
Quả nhi vật căng
Quả nhi vật phạt
Quả nhi vật kiêu
Quả nhi bất đắc dĩ
Quả nhi vật cưỡng
 
Vật tráng tắc lão
Thị vị bất Đạo
Bất Đạo tảo dĩ
 
DỊCH NGHĨA
 
Ai lấy Đạo mà phục vụ dân chúng
Không dùng binh mà xâm lấn nước khác
Sẽ thấy đặng kết quả tốt
Chỗ đông sư đoàn
Gai góc mọc đầy
Sau cuộc chiến chinh
Nhiều năm mất mùa
 
Vậy thắng một cách khéo léo
Không dám dùng sức mạnh
Thắng mà không khoe khoang
Thắng mà không tự khen
Thắng mà không kiêu căng
Thắng vì bất đắc dĩ
Thắng mà không áp bức
 
Vật mạnh lớn ắt già
Ấy là trái Đạo
Trái Đạo mất sớm
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Ai lấy…mất mùa”  Vì ấm no, hạnh phúc của người dân, người lãnh đạo không chủ trương dùng binh lực mà xâm lăng nước khác. Chiến tranh sẽ làm hao tán nhân lực, tài lực, vật lực. Người chết, gia đình ly tán, kinh tế kiệt quệ…đau khổ, đói nghèo … Bên thắng trận vì xâm lăng thì gieo nhân tàn ác, sau này sẽ nhận quả tai ương.
Đoạn hai : “Vậy thắng…áp bức” Các nước hãy hành xử “dĩ hoà vi quý” , giải quyết những mâu thuẫn một cách khéo léo tránh kết oán thù. Động binh để bảo vệ đất nước trước nạn ngoại xâm là một hành động bất đắc dĩ. Nếu không phải động binh mà giải quyết được mâu thuẫn, quốc gia không chịu thiệt thòi, quyền lợi được bảo đảm thì đó là thượng sách (thắng một cách khéo léo là không dùng sức mạnh quân sự). Sau khi đã thắng, bên bại trận ít nhiều cũng có giận hờn oán trách hay căm phẫn. Vì thế, để giữ được hoà khí sau chiến thắng : Tuyệt đối không khoe khoang, không kiêu căng, không tự khen, không tự mãn và tối kỵ là hạ nhục đối phương để đề cao chiến thắng của mình. Những hành động như thế chỉ làm kẻ chiến bại thêm giận dữ, oán thù và núng nấu lòng trả thù rửa hận ở tương lai. Vì vậy, Thắng xong phải giữ tâm trạng của kẻ “Bị thắng một cách bất đắc dĩ” không khơi dậy lòng trả thù của đối phương.
Đoạn ba : “ Vật mạnh…mất sớm”  Sự kiêu căng, lớn tiếng tôn vinh thắng lợi của mình, nhục mạ đối phương v.v… giống như  “Vật mạnh”. Quy luật “Vật cực tắc phản” nên “Vật tráng tắc lão” cái gì mạnh đến mức tối đa thì phải già yếu đi. Già yếu thì phải chết. Muốn tồn tại mà lại đưa mình vào cái thế “Tráng tắc lão” như vậy là không đúng quy luật tồn tại. Vì vậy gọi là “Trái Đạo” . Trái Đạo thì mất sớm vậy.
 
 
TỔNG LUẬN
 

Chương 60 Đạo Đức kinh đề cập đến việc dụng binh của các nhà lãnh đạo  

 

CHƯƠNG 61
 
HÁN VĂN
 
Phù giai binh giả bất tường chi khí
Vật hoặc ố chi
Cố hữu Đạo giả bất xử
 
Quân tử cư tắc quý tả
Dụng binh tắc quý hữu
Binh giả,  bất tường chi khí
Phi quân tử chi khí
Bất đắc nhi dụng
 
Điềm đạm vi thượng
Thắng nhi bất mỹ
Nhi mỹ chi giả
Thị lạc sát nhơn
Phù lạc sát nhơn giả
Tắc bất khả dĩ đắc chí ư
Thiên hạ hĩ
 
Kiết sự thượng tả
Hung sự thượng hữu
Thiên tướng quân cư tả
Thượng tướng quân cư hữu
Ngôn dĩ tang lễ xử chi
Sát nhơn chi chúng
Dĩ ai bi khấp chi
Chiến thắng dĩ tang lễ xử chi
 
DỊCH NGHĨA
 
Binh khí tốt là vật chẳng lành
Nó là vật bị ghét bỏ
                                                   Nên chi người có Đạo không dùng
 
Quân tử, ở thì trọng bên trái
Dụng binh thì quý bên phải
Binh  khí là đồ vật chẳng lành
Không phải đồ dùng của người Quân tử
Chẳng đặng đừng mới phải dùng đến mà thôi
 
                Điềm đạm là tốt nhất
           Thắng trận đâu có hay
Mà cho là hay
Nếu cho đó là hay, là vui giết người
 Phàm vui giết người
                      Thì không thể chiếm được lòng của thiên hạ vậy
 
Việc tốt chuộng bên trái
Việc dữ chuộng bên phải
Phó tướng ở bên trái
Thượng tướng ở bên phải
Là chỗ đứng trong tang lễ
Kẻ giết người nhiều
Thảm  thương khóc cho đó
Kẻ chiến  thắng
Lấy  tang lễ mà xử cho đấy
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Binh khí…không dùng”  Binh khí là dụng cụ dùng để giết chóc, nên gọi nó là vật chẳng lành. Người có Đạo không chủ trương giết chóc, nên không dùng.
Đoạn hai : “ Quân tử…mà thôi” Người Quân Tử không ưa giết chóc, nên nếu phải dùng đến binh khí thì chỉ là vạn bất đắc dĩ mà thôi.
Đoạn ba : “Điềm đạm…thiên hạ vậy” Kẻ hiếu chiến, háo sát thì mới thích chiến đấu và chiến thắng. Như vậy, không phục được lòng người. Người Quân Tử không vậy, nên thường cư xử một cách điềm đạm.
Đoạn bốn : “ Việc tốt…cho đấy” Kẻ giết người nhiều thường đoản mạng do luật nhân-quả “ Sát nhân giả tử”. Nên nói, tang lễ và khóc lóc thảm thương là dùng cho kẻ chiến thắng, háo sát và dùng pháp “hữu vi”.
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 61 ý nói không nên hiếu chiến và háo sát. “Kẻ nào dùng gươm sẽ chết vì gươm” Kẻ chiến thắng càng không tránh khỏi quy luật đó, vì giết chóc quá nhiều (theo pháp “hữu vi”)
 
CHƯƠNG 62
 
HÁN VĂN
 
Đạo thường vô danh phác
Tuy tiểu
Thiên hạ mạc năng thần dã
Hầu vương nhược năng thủ chi
Vạn vật tương tự tân
 
Thiên địa tương hạp
Dĩ giáng cam lộ
Dân mạc chi lịnh nhi tự quân
 
Thỉ chế hữu danh
Danh diệc ký hữu
  Phù diệc tương tri chỉ
Tri chỉ khả dĩ bất đãi
Thí Đạo chi tại thiên hạ
Du xuyên cốc chi ư giang hải
 
DỊCH NGHĨA
 
Đạo  “chân thường” không tên và mộc mạc
Tuy nhỏ
Nhưng cả thiên hạ  chưa chi làm gì để khắc phục được
Nếu bậc Vương Hầu giữ được nó
Vạn vật sẽ tự theo về
 
Trời đất hoà hợp
 Nên tuôn rơi nước “cam lồ”
Dân không bị bắt buộc
      Mà tự phục tùng
 
Pháp độ bày ra
Thì mới có tên
Tên kia đã có
Cũng phải biết chỗ dừng
Biết dừng đúng lúc không gây hại
 Đem Đạo thực hành cho thiên hạ
Như đi xuyên từ hang sâu ra biển lớn
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Đạo thường…theo về” Nếu các nhà cai trị (Vương hầu) biết Đạo và ứng dụng vào việc trị nước thì sẽ được nhân dân ủng hộ, theo về.
Đoạn hai: “Trời đất…phục tùng” Khéo dùng Đạo mà trị nước thì mưa thuận gió hoà, an khang thịnh vượng, dân chúng tự nguyện phục tùng người lãnh đạo.
Đoạn ba : “Pháp độ…biển lớn” Luật pháp là những quy định ràng buộc khiến người dân sống tốt hơn. Tuy nhiên, luật pháp phải hợp lý và chủ yếu bảo vệ quyền lợi của dân chúng. Nếu Luật pháp dùng những điều khoản quy định, làm lợi cho một nhóm, một thiểu số bè phái hoặc giai cấp cai trị (vua chúa), mà xâm phạm đến lợi ích toàn dân thì phải xoá bỏ ngay ( Phù diệc tương tri chỉ. Tri chỉ khả dĩ bất đãi : Phải biết dừng đúng lúc. Dừng đúng lúc thì tránh được hậu quả tai hại ) Ứng dụng Đạo vào việc cai trị nhân dân, khó khăn như người đi từ trong hang sâu lần mò tìm đường ra biển lớn vậy.
 
 TỔNG LUẬN
 
Chương 62 Cảnh báo những khó khăn cho người trị nước. Dùng Đạo (Chân Lý) để cai trị đòi hỏi người Lãnh Đạo phải có Tâm phục vụ dân ,vì dân và cho dân, có Tầm nhìn xa trông rộng để lên kế hoạch, dẫn quốc gia đến tương lai hạnh phúc và thịnh vượng, có Tài để quản lý  xã hội thanh bình thịnh trị.
 
CHƯƠNG 63
 
HÁN VĂN
 
Tương dục hấp chi
Tất cố trương chi
Tương dục nhược chi
Tất cố cường chi
Tương dục phế chi
Tất cố hưng chi
Tương dục đoạt chi
Tất cố dữ chi
Thị vị vi minh
Nhu nhược thắng cương cường
 
Ngư bất khả thoát ư uyên
Quốc chi lợi khí
Bất khả dĩ thị nhơn
 
DỊCH NGHĨA
 
   Sắp thu rút đó lại
Là  vì muốn mở rộng đó ra
Sắp làm yếu đó
Là  vì muốn làm đó mạnh lên
             Sắp vứt bỏ đó
Là vì muốn làm hưng thịnh đó
Sắp cướp đoạt đó
Là vì muốn ban thêm cho đó
Ấy gọi sáng suốt trí tuệ
Mềm yếu thắng cứng mạnh
 
Cá không thể thoát vực sâu
Lợi khí nước nhà
Không thể bảo cho mọi người đều biết
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Sắp thu rút…cứng mạnh” Nguyên tắc “Lùi một để tiến ba” nên muốn mở rộng ra cho có hiệu quả nhất thì trước đó phải thu lại. Tương tự như thế, muốn làm mạnh lên trước trước đó phải yếu đi v.v.. Đây là sự sáng suốt trí tuệ của những người biết Đạo.
Đoạn hai : “Cá không…đều biết” . Vực sâu là nơi ẩn thân an toàn của cá. Nơi đây cá không thể bị làm hại. Cũng như vậy, các báu vật quốc gia như tài nguyên thiên nhiên không nên khoe khoang cho mọi người đều biết, tránh sự tham lam đưa đến trộm cướp, binh đao.
 
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 63 nói về nguyên tắc “muốn tiến lên phải lùi lại” và muốn an thân không được khoe khoang của quý.
 
 
CHƯƠNG 64
 
HÁN VĂN
 
Đạo thường Vô Vi
Nhi vô bất vi
 
Hầu Vương nhược năng thủ chi
Vạn vật tương tự hoá
 
Hoá nhi dục tác
Ngô tương trấn chi
Dĩ vô danh chi phác
Vô danh chi phác
Diệc tương vô dục
Bất dục dĩ tịnh
Thiên hạ tương tự định
 
DỊCH NGHĨA
 
Đạo  chân thường, không làm
Nhưng không gì không làm
 
Bậc Vương Hầu giữ được nó
Thì vạn vật sẽ tự thay đổi
Muốn thay đổi mà nhúng tay vào
Ta nên ngăn lại
Dùng cái mộc mạc của “Vô danh”
Cái mộc mạc của “Vô danh”
Cũng nên không ham muốn
Không ham muốn thì điềm tịnh
Thiên hạ sẽ tự yên
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Đạo thường…không làm” (Đạo thường tức chân thường hay chân lý) thì Vô Vi (không làm gì theo ý mình) . Tuy nhiên “Vô vi nhi vô bất vi” : Không làm gì theo ý mình nhưng làm tất cả mọi việc ( theo những quy luật tự nhiên trong trời đất)
Đoạn hai : “Bậc Vương hầu…tự nhiên” Muốn thay đổi mà làm theo ý mình thì hỏng việc, chi bằng cứ thuận theo tự nhiên, để tự nhiên xoay chuyển mà nên việc. Thiên hạ muốn yên thì phải dứt tâm ham muốn. Dù ham muốn bất cứ gì thì đó cũng là mối hoạ tiềm ẩn của sự rối loạn, bất an.
 
 

TỔNG LUẬN

 

 
Chương 64 có ý khuyên mọi người nên sống điềm tĩnh, vô vi, dứt bặt mọi ham muốn để cuộc sống được bình an hạnh phúc.
 
CHƯƠNG 65
 
HÁN VĂN
 
Thiên hạ hữu Đạo
Khước tẩu mã dĩ phẩn
Thiên hạ vô Đạo
Nhung mã sanh ư giao
 
Hoạ mạc đại ư bất tri túc
Cửu mạc đại ư dục đắc
Cố
Tri túc chi túc
Thường túc hĩ
 
DỊCH NGHĨA
 
   Thiên hạ có Đạo
Phân ngựa vun bón ruộng
Thiên hạ không Đạo
Ngựa chiến nuôi ngoài thành
 
Không hoạ nào lớn bằng không biết đủ
Không hại nào to bằng muốn đặng
Bởi vậy
Biết đủ, tức là đủ
Vậy nên luôn thấy đủ
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Thiên hạ…ngoài thành” Nếu thiên hạ biết Đạo thì thanh bình, ngựa phục vụ cho đời sống người dân. Thiên hạ không hiểu Đạo thì ngựa được nuôi phục vụ cho chiến tranh.
Đoạn hai : “Không hoạ…thấy đủ” Cái hoạ to lớn nhất của con người là lòng tham không đáy (nhân dục vô nhai). Cái hại to lớn nhất của loài người là đã muốn điều gì thì phải làm mọi cách để có cho bằng được. Hai điều đó là mầm mống chiến tranh , là mối hoạ hại to lớn nhất của nhân loại . Nên chi, chỉ cần tự biết đủ thì cuộc sống tự nhiên lúc nào cũng đầy đủ.
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 65 :  Tất cả mọi cuộc Chiến tranh của con người đều có nguyên nhân từ sự “Không Biết Đủ”“Muốn Đặng” . Muốn giải trừ vũ khí một cách bền vững thì trước tiên con người phải giải trừ hai nguyên nhân cơ bản nói trên. Đây là một Thông Điệp hết sức quan trọng mà Lão Tử gửi lại cho con người và đây cũng là một trong những nội dung chính của Đạo Đức Kinh.

  

CHƯƠNG 66
 
HÁN VĂN
 
Sử ngã giới nhiên hữu tri
Hành ư đại Đạo
Duy thi thị uý
Đại Đạo thậm di
Nhi dân hiếu kính
 
Triều thậm trừ
Điền thậm vu
Thương thậm hư
 
Phục văn thái
Đới lợi kiếm
Yếm ẩm thực
Tài hoá hữu dư
Thi vị đạo khoa
Phi Đạo dã tai ?
 
DỊCH NGHĨA
 
Nếu ta hiểu biết kha khá
Ta đi theo đường Đạo lớn
Chỉ sợ làm mà sai thôi !
Đạo Lớn thì rộng và trơn tru
Dân lại thích đường hẹp và quanh co
 
Triều đình lộng lẫy thật
Mà ruộng nương đầy cỏ hoang
Còn kho đụn thì trống trơn
 
Áo quần sang trọng thật
Đeo kiếm bén
Ăn uống chán
Của cải thừa
Nhưng đó là đường của đạo tặc
Đâu phải là đường của đại Đạo
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Nếu ta…quanh co” Người hiểu biết thì đi theo dường Đạo. Theo Đạo lớn thì mọi việc thành công dễ dàng, nhưng người đời vì lòng tham dục, ích kỷ, riêng tư, ganh tị, luôn muốn hơn người khác, nên không thể theo Đạo được.
Đoạn hai : “Triều đình…trống trơn” Giai cấp thống trị (Vua Chúa) vơ vét bóc lột của cải của quần chúng nhân dân, Kẻ thống trị càng giàu có bao nhiêu, thì người bị trị càng nghèo nàn, khốn khổ bấy nhiêu.
Đoạn ba : “Áo quần…đại Đạo” Kẻ thống trị vũ khí tốt, của cải nhiều, hưởng thụ chán, sống cao sang…nhưng đó là con đường “đạo tặc” cướp bóc của nhân dân “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là Quan”. Đó  không phải là con đường của Đại Đạo.
 
 TỔNG LUẬN
 
Chương 66 nói về giai cấp thống trị hủ bại. Những kẻ cai trị mà giàu sang, hưởng thụ thừa mứa, trong khi dân chúng lầm than đói khổ, là những kẻ dùng cường quyền áp bức để vơ vét của cải của dân đen. Đó là con đường của đạo tặc.
 
 
CHƯƠNG 67
 
HÁN VĂN
                          Dĩ chính trị quốc
Dĩ kỳ dụng binh
Dĩ vô sự thủ thiên hạ
 
Ngô hà dĩ tri kì nhiên tai ?
Dĩ thử
Thiên hạ đa kỵ huý
Nhi dân di bần
Dân đa lợi khí
Quốc gia tư hôn
Nhơn đa kỹ xảo
Kỳ vật tư khởi
Pháp lệnh tư chương
Đạo tặc đa hữu
 
Cố, Thánh nhơn vân :
Ngã vô vi nhi dân tự hoá
Ngã hiếu tịnh nhi dân tự chính
Ngã vô sự nhi dân tự phú
Ngã vô dục nhi dân tự phác
 
DỊCH NGHĨA
 
                                     Lấy ngay thẳng mà trị nước
Lấy mưu thuật mà dụng binh
Lấy “vô sự” mà được thiên hạ
 
Ta làm sao biết được
             Thì đây :
      Thiên hạ nhiều cấm kỵ
    Thì dân chúng càng nghèo
          Nhân dân nhiều lợi khí
   Nước nhà càng tối tăm
        Người người nhiều tài khéo
   Vật lạ càng nẩy sinh
           Pháp lệnh càng rõ rệt
Trộm cướp càng sinh nhiều
 
Vậy, bậc Thánh nhơn mới bảo :
Ta “vô vi” mà dân tự hoá
Ta ưa tịnh mà dân tự chính
Ta “vô sự” mà dân tự giàu
Ta không dục vọng mà dân trở thành chất phác.
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Lấy ngay thẳng…thiên hạ”  Trị nước thì cần sự công chính, ngay thẳng, chí công vô tư. Dụng binh thì cần mưu lược. Ổn định phát triển quốc gia, giữ yên thiên hạ thì phải theo những quy luật tự nhiên mà hành xử ( không vì tư lợi cá nhân, bè phái mà làm ngược lại các luật tự nhiên).
Đoạn hai : “Ta làm sao…sinh nhiều” Nếu một quốc gia có nhiều điều cấm (không được tự do. Ví dụ : không tự do ngôn luận, không tự do cư trú v.v… thì mọi sự sáng tạo  và khả năng hoạt động của dân chúng bị hạn chế, do đó dân không thể giầu có được. Vì bị áp chế, không được tự do, nên dân phải đối phó bằng những mưu mô thủ đoạn để qua mặt chính quyền. Dân càng có nhiều mưu kế xảo quyệt để trục lợi, nước nhà càng sa vào cảnh hỗn loạn tối tăm. Dân càng sống khó khăn càng nẩy sinh nhiều mưu tính và kỹ  năng tinh xảo. Nhiều kỹ năng tinh xảo nhằm trục lợi cho nhiều, càng có nhiều “của lạ” (hàng giả, hàng nhái, hàng dởm).
Đoạn ba : “Vậy, bậc Thánh nhơn…chất phác” Bậc Thánh nhơn trị nước, theo Đạo của “Trời” là công bằng, liêm chính, vô tư, vô vụ lợi. Nhân dân ắt sẽ tự sống tốt. Điều này chắc chắn sẽ xảy ra vì “Nhân nào quả nấy” Người cai trị vì dân, thì dân sẽ vì người cai trị. Hơn nữa người cai trị là tấm gương của nhân dân. Họ thế nào thì dân chúng sẽ thế ấy. Dân tự giáo hoá, tự sống công chính, tự làm giàu và thật thà chất phác là niềm mong mỏi của nhà nước. Muốn như vậy thì người cai trị phải sống “Vô vi, Vô sự, Vô dục”.
 
 

TỔNG LUẬN  
 
Chương 67 nói về những điều cần phải làm của người cai trị để giúp dân chúng sống tốt lành, giàu có và yên ổn.
 
 

CHƯƠNG 68 
 
HÁN VĂN
Kỳ chính muộn muộn
Kỳ dân thuần thuần
Kỳ chính sát sát
Kỳ dân khuyết khuyết
 
Hoạ hề phúc chi sở ỷ
Phúc hề, hoạ chi sở phục
Thục tri kỳ cực?
Kỳ vô chính
Chính phục vi kỳ
Thiện phục vi yêu
Nhơn chi mê
Kỳ nhật cố cửu
 
Thị dĩ thánh nhơn
Phương nhi bất cát
Liêm nhi bất quế
Trực nhi bất tứ
Quang nhi bất diệu
 
DỊCH NGHĨA
 
Chính lệnh mờ mờ
                Thì dân thuần hoà
Chính lệnh sát sao
Thì dân lầm lỗi
 
Hoạ là chỗ dựa của phúc
Phúc là chỗ núp của hoạ
Ai biết chỗ cùng của nó ?
Trên mà không ngay thẳng
Thì ngay trở thành nguỵ
Thiện trở thành tà
Cái mê của người
Có đã lâu rồi
 
Bởi vậy, bậc Thánh nhơn
Để vuông vức mà không đẽo gọt
Cảm hoá người mà không tổn thương
Kéo cho ngay mà không sửa dạy
Rọi ánh sáng mà không chói loà.
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Chính lệnh…lỗi lầm”  Người trị nước phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng. Chính sách phải có mục đích phục vụ cho đại đa số quần chúng thuộc tầng lớp nghèo khó, giúp họ có cuộc sống dễ dàng, ổn định. Nên “chính lệnh” (luật pháp) rộng rãi, nhẹ nhàng, nương tay với người nghèo khó thì dân sống thuần hoà. Ngược lại, nếu sưu cao, thuế nặng, xã hội nhiều tiêu cực, pháp luật càng gắt gao, dân càng phản ứng lại bằng cách càng gây nhiều tội lỗi, càng vi phạm pháp luật. 
Đoạn hai : “Hoạ là…lâu rồi” Hoạ và Phúc là hai mặt Âm Dương của cùng một sự việc, nên nó có thể chuyển hoá lẫn nhau, là gốc là ngọn của nhau. Giai cấp cai trị ở trên mà không ngay thẳng, (không chính trực ), giai cấp bị trị ở dưới dù có thẳng ngay, cũng phải trở thành tà vạy (nguỵ) để đối phó và để tồn tại được với cái “nguỵ” của giai cấp trên. Con người mê muội như vậy, đã từ rất lâu rồi.
Đoạn ba : “Bởi vậy,…chói loà” Thánh nhơn trị nước khéo léo đến mức “Trị rất nghiêm túc, rất thận trọng, rất nghiêm mật, rất có kế hoạch mà như không trị ” vì dân chúng cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái. Dân chúng không cảm thấy bị o ép, thúc bách, không lo lắng hay sợ hãi. Mọi việc xảy ra theo ý muốn của nhà cầm quyền, mà dân lại thấy như chính mình muốn và  làm điều đó.
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 68  nói về những điều nên làm và nên tránh của người cai trị.
 
CHƯƠNG 69
                              HÁN VĂN
 
Trị nhơn sự thiên mạc nhược sắc
 
Phù duy sắc thị vị tảo phục
Tảo phục vị chi trọng tích đức
Trọng tích đức tắc vô bất khắc
Vô bất khắc tắc mạc ri kỳ cực
Mạc tri kỳ cực khả dĩ hữu quốc
 
Hữu quốc chi mẫu
Khả dĩ trường cửu
Thị vị thâm  căn cố đế
Trường sinh cửu thị chi đạo
 
 
DỊCH NGHĨA
 
Trị người, giúp trời
Không chi bằng tiết kiệm
 
Tiết kiệm phải là việc lo đầu tiên
Lấy nó làm việc lo đầu tiên
Thì chứa được Đức
Thì không có gì là không thắng được
Không có gì không thắng được
Không ai biết được chỗ cùng cực của nó
Không ai biết được chỗ cùng cực của nó
Thì mới có thể nắm giữ được nước
 
Giữ được Mẹ của nước
Thì mới có thể lâu dài
Đó gọi là “rễ sâu gốc bền”
                                                    Cái đạo “trường sinh cửu thị”
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Trị người…tiết kiệm” . Ở những chương trước, Lão Tử từng nói “Ngã hữu tam bảo, nhất viết Từ, nhì viết Kiệm, tam viết Bất cảm vi thiên hạ tiên” (Ta có ba điều cao quý nhứt : Một là Lòng Từ (yêu thương vô vụ lợi), hai là tính Tiết Kiệm (chi xài thật đúng chỗ), ba là không Không Dám kiêu căng, tự cao tự đại (đứng trước thiên hạ). Với việc trị nước, tính Tiết Kiệm phải đặt lên hàng đầu, vì Kinh Tế là nền tảng để đất nước vững bền. Có Kiệm thì đất nước mới cường thịnh, nhân dân mới no ấm lâu dài.
Đoạn hai : “ Tiết Kiệm…được nước” . Tiết Kiệm chi tiêu phải là mối quan tâm hàng đầu của người cai trị. Đây là cái Đức quan trọng nhất của lãnh đạo. Khi nước nhà cường thịnh, thì các vấn đề khác của xã hội sẽ được giải quyết một cách dễ dàng, nhanh chóng, hiệu quả. Như thế thì người cai trị mới nắm giữ được nước.
Đoạn ba : “ Giữ được…cửu thị”  Kinh Tế là vấn đề cơ bản, gốc rễ  của quốc gia. Vì thế, có thể coi  Tiết Kiệm là Mẹ của mọi kế sách. Nếu giữ được Kiệm thì quốc gia mới an ổn “rễ sâu gốc bền”. Đó là cái Đạo “Trường sinh cửu thị” (Sống lâu mà không già )
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 69 Đạo Đức Kinh bàn về kế sách chủ chốt của người cai trị, đó là tính Tiết Kiệm
 
CHƯƠNG 70
 
HÁN VĂN
 
Trị đại quốc nhược phanh tiểu tiên
 
                Dĩ Đạo lỵ thiên hạ
                              Kỳ quỷ bất thần
             Kỳ thần bất thương nhơn
                    Phi kỳ thần bất thương nhơn
           Thánh nhơn diệc bất thương nhơn
               Phù lưỡng bất tương thương
                       Cố Đức giao quy yên
 
DỊCH NGHĨA
                                   Trị nước lớn khác nào nấu cá nhỏ
                                       Lấy Đạo mà điều khiển thiên hạ
                                             Quỷ cũng không lộ thần oai
                                       Không phải Quỷ không lộ được thần oai
                                                Mà vì Quỷ không làm hại được người
                               Không phải Thần không hại được người
                                           Mà vì thánh nhơn không hại người
                                                Cả hai đều không hại người
                                       Nên Đức của họ nối nhau về một chỗ
                                                                                                  

 BÌNH CHÚ

 
Đoạn một : “Trị nước lớn…cá nhỏ”: Trị nước lớn thì khó khăn, nên phải thật khéo léo và cẩn trọng giống như nấu cá nhỏ. Nấu cá nhỏ, không dám làm vẩy, khuấy mạnh, sợ cá bị nát. Trị nước lớn, dân chúng đông, nhiều vấn đề khó khăn phức tạp nảy sinh. Càng lún sâu vào hữu vi, chính sự càng rối. Vì muốn ổn định lại, nên càng gắt gao, nghiêm ngặt, khó khăn, dân chúng càng bị thương tổn và đau khổ, khiến họ càng sinh ra chống đối và trá nguỵ.
Đoạn hai : “ Lấy Đạo…một chỗ” : Lấy Đạo mà điều khiển thiên hạ  thì dân không bao giờ bị hại. Nếu nhà cầm quyền “vô đạo”, khiến dân phải phải đối phó bằng cách “vô đạo” lại, thì Quỷ Thần cũng không tha cho những kẻ vô đạo. Nhưng Thánh Nhơn trị nước theo Đạo thì Quỷ Thần cũng không dám lộ thần oai, vì họ không có lỗi nên không thể làm hại.
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 70 nói rằng trị nước càng lớn, càng phải thận trọng. Lấy Đạo Vô Vi mà trị dân thì cho dù Quỷ Thần cũng không thể làm hại được vì họ không mắc lỗi vậy.
 
CHƯƠNG 71
 
HÁN VĂN
 
                                                   Đại quốc giả hạ lưu
                                                               Thiên hạ chi giao
                                                   Thiên hạ chi tẫn
 
                                              Tẫn thường dĩ tịnh thắng mẫu
                                                       Dĩ tịnh vi hạ
                                   Cố
                                                 Đại quốc dĩ hạ tiểu quốc
                                                    Tắc thủ tiểu quốc
                                                Tiểu quốc dĩ hạ đại quốc
                                                       Tắc thủ đại quốc
                                   Cố
                                                 Hoặc hạ dĩ thủ
                                                      Hoặc hạ nhi thủ
                                             Đại quốc bất quá dục kiêm súc nhơn
                                      Tiểu quốc bất qúa dục nhập sự nhơn
                                                  Phù lưỡng giả các đắc kỳ sở dục
                                            Đại giả nghi vi hạ
 
DỊCH NGHĨA
 
                                         Nước lớn mà làm chỗ thấp
                                                   Sẽ là chỗ hợp lại của thiên hạ
                                  Là giống cái của thiên hạ
 
                                       Giống cái thường lấy Tịnh mà thắng giống đực
                                                Lấy Tịnh làm chỗ thấp
 
                                  Nước lớn mà hạ mình trước nước nhỏ
                                              Ắt đặng tiểu quốc xưng thần
                                Nước nhỏ mà hạ mình trước nước lớn
                                          Ắt đặng đại quốc che chở
                       Nên
                                             Hoặc hạ mình để đặng
                                                   Hoặc hạ mình mà đặng
                                       Nước lớn chẳng qua muốn gồm nuôi người
                                 Nước nhỏ chẳng qua muốn vào thờ người
                                          Cả hai đều đặng chỗ muốn của mình
                                      Bậc lớn nên hạ mình
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Nước lớn…thiên hạ” Nước lớn mà khiêm nhường, mà làm chỗ dựa tin cậy được, mà làm nơi nương nhờ được khi cần thiết, thì các nước nhỏ sẽ theo về. Nước lớn ấy sẽ thống lĩnh được thiên hạ.
Đoạn hai : “Giống cái…chỗ thấp” Giống cái sở dĩ thắng giống đực vì sự mềm yếu của nó. Vì mềm yếu, nên nó không dám đương đầu, đụng độ với giống đực, nó chịu hạ mình ở chỗ thấp, dùng sự mềm yếu như một ưu thế của mình để điều khiển lại giống đực, như thế là “Bất tranh nhi thiện thắng”.
Đoạn ba : “ Nước lớn…che chở” . Dù ở thế thượng phong như nước lớn hay ở thế hạ phong như nước nhỏ, thì sự “hạ mình” cũng đều có lợi. “Hạ mình” có nghĩa là luôn tôn trọng và khiêm nhường với người. Điều này khiến bất kỳ đối tượng nào cũng có thể trở nên bạn bè tốt của mình.
Đoạn bốn : “Nên…hạ mình”  Nước lớn và nước nhỏ đều có nhu cầu nương vào kẻ khác để có lợi cho mình. Hoặc “nuôi” người mà có lợi như nước lớn, hoặc “được nuôi” mà có lợi như nước nhỏ. Cả hai đều phải “hạ mình” thì mới được việc của mình. Nước nhỏ hạ mình do thế yếu là điều dễ làm, nên chỉ lưu ý nước lớn nên hạ mình, trước là để tránh thói kiêu ngạo tự mãn, khiến đối phương oán ghét, sau là có thể thu phục được nước nhỏ như ý muốn.
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 71 nói về sự cần thiết của yếu tố “Âm” trong đấu tranh và mưu đồ việc lớn. “Tịnh” và “hạ mình” là những kế sách để các quốc gia dù nhỏ  hay lớn cũng đều đạt được ý nguyện của mình.
 
CHƯƠNG 72
 
HÁN VĂN
 
Đạo giả
Vạn vật chi áo
Thiện nhơn chi bửu
Bất thiện nhơn chi sở bảo
 
Thiện ngôn khả dĩ thị tôn
Hành khả dĩ gia nhơn
Nhơn chi bất thiện
Hà khí chi hữu
 
                          Cố
Lập thiên tử
Trí tam công
Tuy hữu củng bích
Dĩ tiên tứ mã
Bất như toạ tiến thử Đạo
 
Cổ chi sở dĩ quý thử  Đạo giả hà ?
Bất nhật dĩ cầu đắc
Hữu tội dĩ miễn da ?
Cố
Vi thiên hạ quý dã.
 
DỊCH NGHĨA
 
Đạo là
Chỗ  chứa huyền bí thâm sâu của vạn vật
Châu báu của người lành
Chỗ nương dựa của kẻ không lành
 
Lời hay có thể làm lợi ích cho đời
 
Việc hay có thể làm mình khác người
Nhưng, còn kẻ không lành
Sao lại bỏ chúng ?
 
Bởi vậy,
Mới lập đấng Thiên Tử
Mới đặt bậc tam công
Tuy cầm củng bích
Ngồi xe bốn ngựa
Nhưng sao bằng ngồi yên trên Đạo mà trị dân
 
Người xưa sở dĩ quý Đạo ấy là tại sao ?
Không ngày nào họ không cầu cho được đó
Cho nên dù có lỗi cũng được miễn hay sao ?
Vì vậy, nó là vật quý của thiên hạ
 
          BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Đạo là…không lành” Tính chất của vũ trụ là hàm chứa cả hai yếu tố Âm và Dương trong sự vận hành của tổng thể. Đây là tính năng của Đạo. Nên nói, Đạo là chỗ chứa huyền bí thâm sâu của vạn vật, nơi hàm chứa cả yếu tố thuận Đạo (người lành) và yếu tố nghịch Đạo (kẻ không lành) .
Đoạn hai : “ Lời hay…bỏ chúng” Theo Đạo, dù hay, dở tốt xấu cũng đều có chỗ “Dụng” của nó, nên chẳng thể bỏ đi điều gì.
Đoạn ba : “ Bởi vậy…trị dân” dù giầu sang đến đâu, quyền thế đến đâu cũng không bền, nếu không biết dùng Đạo mà trị dân.
Đoạn bốn : “ Người xưa…thiên hạ” Đạo là chân lý cao cả nhất, nên người xưa thường hằng ngày phải suy xét lẽ Đạo trong cuộc sống. Cho nên có lỗi thì sửa chữa, như vậy thì được hết lỗi vậy. Trong thiên hạ, không gì quý bằng Đạo.
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 72 nói về tính năng chứa chấp, nuôi dưỡng hết thẩy những hay dở, tốt xấu của Đạo. và vị trí cao quý nhất của Đạo trong thiên hạ
 
CHƯƠNG 73
 
HÁN VĂN
 
Kỳ an dị trì
Kỳ vị triệu dị mưu
Kỳ tuý dị phán
Kỳ vi dị tán
Vi chi ư vị hữu
Trị chi ư vị loạn
 
Hạp bao chi mộc
Sanh ư hào mạt
Cửu tầng chi đài
Khởi ư luỹ thổ
Thiên lý chi hành
Thuỷ ư túc hạ
 
Vi giả bại chi, chấp giả thất chi
Thị dĩ Thánh nhơn
Vô vi cố vô bại
Vô chấp cố vô thất
 
Dân chi tùng sự
Thường ư cơ thành nhi bại chi
Thận chung như thuỷ
Tắc vô bại sự
 
Thị dĩ Thánh nhơn
Dục bất dục
Bất quý nan đắc chi hoá
Học bất học
Phục chúng nhơn chi sở quá
Dĩ phụ vạn vật chi tự nhiên
Nhi bất cảm vi
 
DỊCH NGHĨA
 
Vật yên tịnh, dễ cầm
Chưa bày điềm, dễ lo
Vật mềm, dễ tan tác
Vật nhỏ, dễ phân tán
Ngăn ngừa khi chưa hiện
Sửa trị khi chưa loạn
 
Cây to một ôm
          Khởi sanh từ gốc nhỏ
    Đài cao chín từng
             Khởi đầu từ nhúm đất con
        Đi xa nghìn dặm
  Khởi đầu từ một bước chân
 
          Làm thì hư
                Giữ thì mất
Bởi vậy Thánh nhơn
            Không làm, nên không hư
        Không giữ, nên không mất
 
Người dân mà làm
Gần thành thì bại
Cẩn thận từ đầu tới cuối
Tất không thất bại
 
Vậy nên Thánh nhơn
Muốn cái “ không muốn”
Không quý của khó được
Học cái “ không học”
Giúp chúng nhơn sửa chữa sai lầm
Giúp vạn vật sống theo tự nhiên
Nên không làm theo ý con người
 
 

BÌNH CHÚ
 

 
Đoạn một : “ Vật yên tịnh…chưa loạn” Những ưu điểm và khuyết điểm của tính chất Âm : “Vật yên tịnh dễ cầm” (ưu điểm ) “Vật mềm dễ tan tác” “Vật nhỏ dễ phân tán” (khuyết điểm). Sự chuẩn bị, lo xa, bao giờ cũng có hiệu quả tốt “Chưa bày điềm, dễ lo” “Ngăn ngừa khi chưa hiện” “Sửa trị khi chưa loạn”. Quan điểm này cũng giống như quan điểm của Đông Y về phòng bệnh : “Thánh nhơn trị vị bệnh, bất trị dĩ bệnh” (Người thầy thuốc giỏi chữa khi bệnh chưa phát, không đợi đến khi bệnh đã phát ra mới chữa).
Đoạn hai : “ Làm thì hư…không mất” : Làm (hữu vi) thì hư chuyện.  Cố giữ (cái không thể hoặc không được quyền giữ) thì sẽ mất. Thánh nhơn không làm như vậy.
Đoạn ba : “Người dân…thất bại” Ai làm (hữu vi) dù cố gắng hết mức, gần thành công rồi thì trước sau cũng thất bại. Luôn luôn cẩn thận thì nhiều khả năng là không thất bại.
Đoạn bốn : “Vậy nên…con người” Thánh nhơn sống mà không ham muốn, không quý những điều hay những vật mà thế gian cho là quý, không học cái hữu vi, mà chỉ học điều vô vi, để giúp vạn vật sống thuận theo tự nhiên và giúp mọi người sửa chữa lỗi lầm.
 
 TỔNG LUẬN
 
Chương 73  : Nêu ra vài ưu, khuyết điểm của đặc tính Âm. Lưu ý đến đức tính cẩn thận và nhắc nhở sống theo Vô vi.
 
CHƯƠNG 74
 
HÁN VĂN
 
Cổ chi thiện vi Đạo giả
Phi dĩ minh dân
Tương dĩ ngu chi
 
Dân chi nan trị
Dĩ kỳ trí đa
                     Cố
                                      Dĩ trí trị quốc
                                  Quốc chi tặc
                             Bất dĩ trí trị Quốc
                                      Quốc chi phúc
 
                       Tri thử lưỡng giả diệc khể thức
                             Thường tri khể thức
                               Thị vị Huyền đức
                     Huyền đức , thâm hĩ, viễn hĩ
                               Dữ vật phản hĩ
                            Nhiên hậu nãi chí đại thuận
 
DỊCH NGHĨA
 
                         Đời xưa, kẻ khéo thi hành Đạo
                           Không làm cho dân khôn lanh
                                Mà làm cho dân “thực thà”
 
                                         Dân mà khó trị
                                       Vì nhiều trí mưu
             Bởi vậy,
                                Lấy trí mà trị nước
                                          Là cái vạ cho nước
                       Không lấy trí mà trị nước
                                    Là cái phúc cho nước
 
                          Biết hai điều ấy
                                 Là biết làm điều mô phạm
                             Thường biết làm điều mô phạm
                       Nên gọi là Huyền Đức
                                  Huyền đức thì sâu thẳm
                           Nhân đó, muôn vật trở về
                                       Rồi sau mới đến chỗ “đại thuận”
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Đời xưa …trí mưu” Người xưa dùng Vô Vi trị nước, dân sống bình an, no ấm, nên tâm hồn chất phác thật thà. Nếu dân trở nên khó trị vì nhiều mưu mô gian xảo, phạm pháp gia tăng, xã hội hỗn loạn vì người trị nước thi hành nhiều pháp hữu vi.
Đoạn hai : “Bởi vậy…cho nước” Theo hữu vi thì tất phải dùng đến hình luật nghiêm minh (PHÁP TRỊ) đấy là cái hoạ cho đất nước. Theo Vô Vi thì không cần phải đối phó với dân nên pháp lệnh không cần nghiêm ngặt. Chủ yếu là người dân tự ý thức để tránh phạm pháp, nên nhà nước dùng NHÂN TRỊ là chủ yếu. Đấy là cái phúc cho nước nhà.
Đoạn ba : “ Biết hai…đại thuận” Biết rõ lợi và hại của hai hình thức cai trị trên là biết những điều mô phạm để cai trị dân chúng. Như vậy là cái Đức sâu xa cùng cực vậy. Có được cái Đức như vậy rồi thì mọi sự mọi vật đều bình ổn, nước nhà sẽ ngày càng hưng thịnh.
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 74 Nêu rõ cái lợi và hại của hai nền Pháp TrịNhân Trị
 
                                             CHƯƠNG 75
 
HÁN VĂN
 
                            Giang hải sở dĩ năng vi
                                   Bách  cốc vương giả
                          Dĩ kỳ thiện hạ chi
             Cố
                                      Năng vi bách cốc vương
 
                            Thị dĩ dục thượng dân tất dĩ ngôn hạ chi
                                       Dục tiên dân tất dĩ thân hậu chi
                  Thị dĩ Thánh nhơn
                                    Xử thượng nhi dân bất trọng
                               Xử tiền nhi dân bất hại
                           Thị dĩ thiên hạ lạc thôi nhi bất yếm
                                        Dĩ kỳ bất tranh
                             Cố
                                 Thiên hạ mạc năng dữ chi tranh.
 
DỊCH NGHĨA
 
                  Sông biển sở dĩ làm đặng Vua trăm hang
                              Vì nó khéo đứng dưới thấp
                       Nên làm Vua đặng trăm hang
 
               Bởi vậy
                                      Muốn ngồi trên dân
                                   Hẳn lấy lời mà hạ mình
                                          Muốn đứng trước dân
                                  Hẳn lấy mìnhđể ra sau
                                       Vậy nên Thánh nhơn
                                Ở trên mà dân không hay nặng
                           Ở trước mà dân không thấy hại
                  Vì thế
                                Thiên hạ không chán, lại còn đẩy tới trước
                    Bởi đó không tranh
                          Nên thiên hạ không cùng tranh với đó được.
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Sông biển…trăm hang”. Muốn ở trên ngọn phải giữ vững cái gốc. Muốn làm Vua thì phải khéo hạ mình trước thiên hạ. “Hạ mình” có nghĩa là thân mật, gần gũi, khiêm nhường, để người dưới thêm yêu kính nên gọi là “khéo”, chứ không phải là cách hạ mình để người dưới coi thường.
Đoạn hai : “Bởi vậy…đó được” : Cái thế vững chãi, bền lâu nhất của kẻ “gồm thâu thiên hạ” là hạ mình vì thiên hạ; lo cái điều thiên hạ phải lo, gánh vác việc thiên hạ phải gánh vác; khổ trước khi thiên hạ phải khổ; vui sau khi thiên hạ được vui, hưởng thụ sau khi thiên hạ đã hưởng thụ. Nên Thánh nhơn cai trị dân, ngồi ở trên mà dân không thấy “nặng”, đứng ở trước  mà dân không thấy bị hại. Vì thế nên được dân trọng vọng, hoan nghênh.
Người cai trị không tranh danh đoạt lợi của dân chúng, nên chẳng ai tranh giành gì với họ và cũng chẳng tranh được ngôi vị của họ.
 
TỔNG LUẬN
 
Chương 75 Lão Tử nói rõ cái Đức của bậc Thánh Nhơn trị nước
 
CHƯƠNG 76
 
HÁN VĂN
 
                                Dụng binh hữu ngôn
                                         Ngô bất cảm vi chủ nhi vi khách
                             Bất cảm tiến thốn nhi thối xích
 
                                     Thị vị hành vô hành
                                              Nhương vô tý
                    Nhưng vô địch
                        Chấp vô binh
 
                                   Hoạ mạc đại ư khinh địch
                                      Khinh địch cơ táng ngô bảo
                 Cố
                               Kháng binh tương gia
                                              Ai giả thắng hĩ
 
DỊCH NGHĨA
 
                                       Dụng binh có câu
                               Thà làm khách hơn làm chủ
                                    Thà thối một bước, hơn tiến một tấc
 
                       Đó gọi là : Bước mà không đi tới
                                  Nhượng mà không xăn tay
                          Bắt giặc mà không đối địch
                                          Cầm giữ mà không binh khí
 
                   Không có hoạ nào lớn bằng khinh địch
                                   Khinh địch thì mất của báu
                       Nên hai bên giao binh
                             Kẻ nhường là thắng
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Dụng binh….một tấc”  Trong phép dụng binh, sử dụng nhu  thuật là một chiến thuật nắm được nhiều ưu thế. Phòng thủ tốt, không đối đầu trực diện trước sức mạnh của địch, lui binh để bảo toàn lực lượng v.v… là cái thế cần thiết ban đầu để việc tấn công về sau đạt được hiệu quả như ý.

Đoạn hai : “ Đó gọi là…binh khí” Chiến đấu và chiến thắng bằng cách sử dụng nhu thuật, bằng cách sử dụng chính sức mạnh của kẻ địch đánh ngược lại kẻ địch “gậy ông đập lưng ông” Không dùng bạo lực để chiến đấu, tránh hao công, hao người, hao của, của cả đôi bên mà vẫn chiến thắng. Đó là thiên tài quân sự biết ứng dụng được phép Vô Vi trong chiến đấu.

Đoạn ba : “ Không có …là thắng” Nguyên tắc sống để thành công là luôn thận trọng khi ứng xử với tất cả mọi đối tượng. Trong binh pháp, dù kẻ địch của ta là bất kỳ ai ta cũng phải thận trọng, tránh mọi sơ xuất bất lợi cho mình. Nhu thuật, thế dưới, phòng thủ… vẫn luôn chiếm ưu thế trong chiến đấu và đó cũng là nguyên tắc ứng xử hay trước mọi đối tượng trong cuộc sống đời thường.

 

TỔNG LUẬN
 
Chương 76 Lão Tử đề cập đến nguyên tắc dụng binh có nhiều ưu thế, vẫn là Nhu Thuật

 
CHƯƠNG 77
 
HÁN VĂN
 
                                              Dân chi uý uy
Tắc đại uy chí
Vô hiệp kỳ sở cư
Vô yếm kỳ sở sanh
Phù duy bất yếm
Thị dĩ bất yếm
Thị dĩ Thánh nhơn
Tự tri bất tự kiến
Tự ái bất tự quý
Cố
Khử bỉ thủ thử
 
DỊCH NGHĨA
 
Dân mà không sợ cái đáng sợ
Tất cái sợ lớn phải đến
 
Đừng hẹp chỗ ở của mình
              Đừng chán đời sống của mình
          Vì ta không chê
     Nên ta không chán
 
                                Bởi vậy Thánh nhơn
                     Biết mình nhưng không tự xem là giỏi
                       Yêu mình nhưng không quý mình hơn người khác
                         Nên bỏ đây mà giữ đó.
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Dân mà …phải đến” Dân mà không sợ những điều đáng sợ như phạm pháp và hình phạt của nhà nước, là vì : Hoặc đạo đức của người dân đã suy đồi, xuống cấp, hoặc họ oán ghét, khinh chê những kẻ cầm quyền nên không tuân lệnh, hoặc họ nghèo đói cơ cực quá mức, nên túng thế làm liều, hoặc vì nhiều nguyên nhân trên kết hợp. Nếu dân đã coi thường phép nước, tất xã hội phải rối loạn, bất an, dẫn đến nguy cơ đổ vỡ, đó là cái mối nguy lớn nhất cho đất nước vậy.

Đoạn hai : “Đừng hẹp…không chán” Nếu “biết đủ” thì ở hoàn cảnh nào cũng vui vẻ bình an, không bất mãn và không làm càn, làm bậy.

Đoạn ba : “Bởi vậy…giữ đó” Biết mình là biết đúng năng lực, hoàn cảnh và giới hạn mà mình có thể làm được trong cuộc sống. “Biết mình” để có thể sống an ổn và tri túc. Không nên lầm lẫn giữa sự biết đúng về mình với việc đánh giá mình cao hơn cái thực chất của mình (tự kiến). Biết yêu thương chăm sóc bản thân mình (tự ái) nhưng không ích kỷ, không coi mình là quý hơn người khác (tự quý). Người hiểu Đạo (Thánh nhơn) biết như vậy nên làm điều đúng mà bỏ điều sai.

 

                    TỔNG LUẬN
 
Chương 77 nêu lên nguyên nhân và hậu quả những mối lo lớn của nhà nước. Khuyên mọi người nên biết “tự tri” và “tự ái” mà không nên “Tự kiến”  và “ tự quý”.

 

CHƯƠNG 78
 
HÁN VĂN
 
Dân bất uý tử
           Nại hà dĩ tử cụ chi ?
       Nhược sử dân thường uý tử
               Nhi vi kỳ giả
     Ngô đắc chấp nhi sát chi
                   Thục cảm ?
 
                   Thường hữu tư sát giả sát
 
                               Phù đại tư sát giả sát
                                      Thị vị đại đại tượng trác
                          Phù đại đại tượng trác giả
                                  Hi hữu bất thương kỳ thủ hĩ.
 
DỊCH NGHĨA
 
Dân không sợ chết
Làm sao lấy chết doạ đó
                        Nhược bằng khiến dân thường sợ chết
                                 Và lại có người phạm pháp
                             Ta bắt được và giết đi
                        Để không ai còn vi phạm nữa ?
                                          Ai dám làm việc đó ?
 
                              Thường có Đấng Tư Sát để mà giết
 
                      Nay ta lại thế đó mà giết
                           Có khác nào thế tay thợ đẽo
                                          Thế tay thợ đẽo
                     Ít thấy chẳng bị đứt tay
 
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Dân không…việc đó” Dân đã không sợ chết (vì những lý do đã phân tích ở chương 77), thì việc lấy cái chết ra doạ là vô ích (không hiệu quả). Nhược bằng nhà nước dùng hình phạt nghiêm khắc mà doạ dân nhưng dân vẫn phạm pháp mà không sợ chết. Liệu rằng nhà nước có dám bắt, giết hết những người vi phạm hay không ( từ “Dân” ở đây là chỉ cho số đông người). Nếu nhà nước dám bắt và giết hết thì chắc sẽ xảy ra đại loạn.

Đoạn hai : “Thường có Đấng Tư Sát  để mà giết” Đấng Tư sát đây chính là Luật Trời hay Lẽ Công Bằng của Luật Nhân Quả.

Đoạn ba : “Nay ta…đứt tay” Nếu ta thay Trời để giết chóc thì điều đó không phù hợp với Luật Tự Nhiên. Đã đi ngược lại với luật tự nhiên ắt sẽ bị luật tự nhiên nghiến nát.

 
TỔNG LUẬN
 
Chương 78 nhắc nhở những người cai trị về Quy Luật Tự Nhiên.

 

CHƯƠNG 79
 
HÁN VĂN
 
                                              Dân chi cơ
                                   Dĩ kỳ thượng thực thuế chi đa
                                                         Thị dĩ cơ
 
                                            Dân chi nan trị
                                        Dĩ kỳ thượng chi hữu vi
                                                   Thị dĩ nan trị
 
                                                Dân chi khinh tử
                                             Dĩ kỳ cầu sanh chi hậu
                                                    Thị dĩ khinh tử
                                           Phù duy vô dĩ sanh vi giả
                                                Thị hiền ư quý sanh
 
DỊCH NGHĨA
 
                                                Dân mà đói
                                      Là vì trên bắt thuế nhiều
                                            Nên mới đói
 
                                                   Dân mà khó trị
                                            Là vì trên dùng đạo “hữu vi”
                                                    Nên mới khó trị
 
                                    Dân mà xem nhẹ cái chết
                                             Là vì trọng cầu sự sống
                                         Nên mới khinh chết
 
                            Kẻ nào không làm gì cả để sống
                                Ngoan hơn kẻ cố “làm”  để sống
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “ Dân mà…mới đói” Chính sách kinh tế nhà nước thất bại nên mới phải dùng đến biện pháp sưu cao thuế nặng để bổ sung công quỹ. Đây là nguyên nhân khiến dân đói.

Đoạn hai : “Dân mà …khó trị” Nhà nước dùng “hữu vi” tức làm theo tính toán tư lợi của phe phái, tầng lớp cai trị, mà không dùng đạo Vô Vi (tức các nguyên tắc công bằng của tự nhiên) nên dân chúng chịu lầm than thiệt thòi, dân sẽ phản kháng bằng cách không tuân lệnh (khó trị).

Đoạn ba : “Dân mà…khinh chết” khi dân đã không còn có gì để mất thì họ sẵn sàng liều mạng để tìm đường sống. Họ coi thường cái chết chẳng qua là vì muốn tìm cái sống mà thôi.

Đoạn bốn : “Kẻ nào…để sống” Kẻ theo “vô vi” để được sống khôn ngoan hơn kẻ theo “hữu vi” để tìm sự sống. 

 
                            TỔNG LUẬN 

Chương 79 nhắc nhở “vô vi” là con đường khôn ngoan nhất để tìm sự sống.

 
CHƯƠNG 80
 
HÁN VĂN
 
                                  Thiên hạ nhu nhược
                                           Mạc quá ư thuỷ
                                 Nhi công kiên cường giả
                                         Mạc chi năng thắng
                                       Kỳ vô dĩ dị chi
 
Nhu thắng cương
Nhược thắng cường
Thiên hạ mạc năng tri
Mạc năng hành
 
  Thị dĩ Thánh nhơn vân
              Thọ quốc chi cấu
            Năng vi xã tắc chủ
       Thọ quốc bất tường
            Năng vi thiên hạ vương
  Chánh ngôn nhược phản
 
DỊCH NGHĨA
 
       Dưới trời mềm yếu không chi hơn nước
Không chi hơn đó được
Không chi thế đó được
 
             Mềm thắng cứng
                      Yếu thắng mạnh
                            Dưới trời không ai không biết
              Nhưng không ai có thể làm được
 
Bởi vậy Thánh nhơn nói
“Dám nhận lấy bụi bặm của nước
“Mới có thể làm chủ được xã tắc
“Dám nhận lấy sự không may của nước
“Mới có thể làm Vua thiên hạ”
Lời ngay nghe trái ngược.
 
BÌNH CHÚ
 
Đoạn một : “Dưới Trời…đó được” Thế mạnh không thể chối cãi của nước ( nói chung là thế mạnh của đặc tính Âm).

Đoạn hai : “Mềm thắng…làm được” Ai cũng biết nhu thuật là khôn ngoan và nhiều lợi thế, nhưng để ứng dụng nhu thuật cho đúng trong ứng xử thì không dễ và không phải ai cũng làm được.

Đoạn ba : “Bởi vậy…trái ngược” Đối với người cai trị, lấy nhu thuật mà trị nước thì mới thành công, mặc dù điều đó không dễ dàng và nghe qua có vẻ như nghịch lý.

 
TỔNG LUẬN
 
Chương 80 nói về ưu thế của nhu thuật. Ứng dụng nó trong việc trị nước thì rất thành công và hiệu quả, tuy nhiên điều này  không phải là không  khó khăn, từ việc hiểu được ý nghĩa cho đến khi thực hành hiệu quả.

 
 
CHƯƠNG 81
 
HÁN VĂN
 
Tiểu quốc qủa dân
Sử hữu thập bách chi khí nhi bất dụng
 
Sử dân trọng tử nhi bất viễn tỉ
Tuy hữu chu dư
Vô sở thừa chi
 
Tuy hữu giáp binh
Vô sở trần chi
Sử dân phục kiết thằng nhi dụng chi
 
Cam kỳ thực
Mỹ kỳ phục
An kỳ cư
Lạc kỳ tục
 
Lân quốc tương vọng
Kê khuyển chi thinh tương văn
Dân chí lão tử bất tương vãng lai
 
DỊCH NGHĨA
 
Nước nhỏ, dân ít
Dù có mười hoặc trăm thứ binh khí
Cũng không cho dùng đến
 
Khiến dân sợ chết, mà không đi xa
Tuy có thoàn xe
Không chỗ ngồi lên
 
Tuy có giáp binh
Cũng không cho dùng đến
Khiến dân dùng lại cách gút dây
 
Ăn món ngon  của nơi đó
Mặc đồ đẹp của nơi đó
Yêu nơi mình ở đó
Vui với phong tục của đó
 
Nước gần cùng trông nhau
Tiếng gà chó cùng nghe chung
                              Dân đến già, chết không qua lại nhau
 
BÌNH CHÚ
 

Đoạn một : “Nước nhỏ…dùng đến” Nước nhỏ, dân ít mà dùng bạo lực (chiến tranh) để giải quyết xung đột mâu thuẫn, là việc không nên làm (trừ khi bất đắc dĩ)

Đoạn hai : “Khiến dân…ngồi lên” nhà cai trị phải để dân thấy nơi mình cư ngụ là an ổn mới không nghĩ đến chuyện di cư sang nơi khác

Đoạn ba : “ Tuy có…gút dây” Nhà nước không dùng bạo lực với dân chúng, để tự dân ý thức được bổn phận công dân của mình.

Đoạn bốn : “ Ăn món ngon…của đó” Người cầm quyền phải có chính sách lợi quốc, an dân, khiến dân chúng yêu thương quý mến quê hương tổ quốc mình, yêu nước mình từ trong sâu thẳm tâm hồn.

Đoạn năm : “Nước gần…lại nhau” Nhà nước phải có chính sách hiếu hoà với lân bang, khiến cho nhân dân nước mình và nước người cùng an ổn, không xâm phạm lẫn nhau .

 

TỔNG LUẬN
 
Chương 81 Đạo Đức Kinh khuyên các nhà cầm quyền nên luôn thực hiện chính sách lợi nước an dân, khiến dân yêu mến quê hương tổ quốc để chung tay xây dựng nước nhà. Với lân bang thì luôn chủ trương hoà hiếu để dân chúng các quốc gia luôn được sống trong hoà bình hữu nghị với nhau.

 
QUAN ĐIỂM CỦA GE-TVL.COM VỀ ĐẠO LÃO
 
LÃO TỬ truyền bá tư tưởng của mình thông qua một (hoặc những) nhân vật khác, giống như trường hợp của Chúa Giêsu, Phật, và Khổng Tử (những cuốn