Ngày: 20 - 1 - 2018  TRANG CHỦ       GE       CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG      CÂU LẠC BỘ      BẠN ĐỌC VIẾT     PHIẾM ĐÀM     GÓC NHÌN     THƯ NGỎ     ĐIỂM BÁO   LIÊN HỆ
DANH MỤC
ỨNG DỤNG GE
GE
GIAO LƯU BẠN ĐỌC
LẮNG NGHE
THỜI GIAN
TÔN GIÁO
TRIẾT HỌC
TÂM LÝ
Y HỌC
TÌNH YÊU
KỸ NĂNG SỐNG
GIÁO DỤC
GIỚI THIỆU SÁCH
MỸ THUẬT, NGHỆ THUẬT
THƠ
TRUYỆN NGẮN
DẠY ANH VĂN
CÁC LỚP HƯỚNG DẪN ĐÀO TẠO
HỘI HỌA
 
 
GIỚI THIỆU  
 

 

                             

                                        

                                                                              

                                                          Trang mạng ge-tvl.com viết đầy đủ là 

                                                 GREAT EVOLUTION FOR TRUE VALUE OF LIFE

                               (Tiến hóa vượt trội vì cuộc sống đích thực )

   GE giúp cho sự tồn tại và phát triển của con người bền vững, cơ bản dựa trên những quy luật tự nhiên, khách quan, trong vũ trụ ( Existence and Stable Progress basing on Natural Rules).

  
                                                                     


           Trong cuộc sống bề bộn những vấn đề liên quan đến sự sinh tồn của chúng ta. Mâu thuẫn luôn xẩy ra bên trong mỗi con người, giữa người này và người khác, giữa con người với thiên nhiên, con người và xã hội. Mâu thuẫn là bản chất của sự sống. Chính nó là động lực tiến hoá của chúng ta, nhưng chính nó cũng là nỗi đau khổ khôn nguôi của loài người, khi cứ phải đối mặt với những mâu thuẫn mà mình không muốn gặp.          

    Cuộc sống luôn luôn đòi hỏi chúng ta phải lựa chọn thái độ ứng xử đối với tất cả mọi người, mọi vật, mọi sự việc mà ta tiếp xúc hằng ngày. Mỗi người, tuỳ theo trình độ nhận thức, trình độ giáo dục,  tính khí, phong cách… mà xử lý tình huống khác nhau. Những xung đột được giải quyết không phải bao giờ cũng làm hài lòng hai đối thủ; vì, giống như di chuyển trên đường, kẻ ngược người xuôi, nhưng ai cũng thấy mình đi đúng luật.

       
Khái quát lên bình diện vĩ mô; mỗi quốc gia, dân tộc có cách tư duy, nhận thức, xử thế khác nhau trong các mối quan hệ và giải quyết mâu thuẫn; vì vậy, họ thường không nhất quán. Các cuộc chiến tranh nóng lạnh, tiềm ẩn hay bộc phát xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau là điều không tránh khỏi và không bao giờ chấm dứt vì chúng ta đã không có biện pháp giải quyết tận căn để vấn đề.

        GE
là trang mạng mang nội dung trình bày các khám phá về QUY LUẬT SỐNG tự nhiên trong vũ trụ, làm nền tảng cơ bản và là tiêu chuẩn cho sự ứng dụng vào việc xử trí trong mọi lãnh vực cuộc sống. Đây sẽ là việc xử trí tốt đẹp nhất vì nó mô phỏng cách xử trí của vũ trụ, hành xử như cách hành xử của Quy Luật Sống.  

        GE hướng đến giá trị thực tiễn của các lý thuyết nhằm đem đến lợi ích thực tế, niềm vui, sức khoẻ và sự bình an  cho con người.

  

 

 

HÃY LAO ĐỘNG TRÍ ÓC MỖI NGÀY ĐỂ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC, THĂNG TIẾN

TÂM LINH 

 

HÃY LAO ĐỘNG TAY CHÂN MỖI NGÀY ĐỂ THỂ XÁC KHOẺ MẠNH, VÌ THỂ XÁC

LÀ NƠI TRÚ NGỤ CỦA TÂM LINH

GE : Con đường sống và phát triển hoàn hảo


GE:  Quyển sách của Sống và Chết

GE : Khởi đầu cho kỷ nguyên mới : Kỷ Nguyên Sống theo

Quy Luật Tự Nhiên. 

 

 MỜI CÁC BẠN VÀO TRANG  MỤC

THÔNG TIN BÀI CẬP NHẬT ĐỂ XEM CÁC BÀI MỚI NHẤT

 

KÍNH BÁO : TRANG CHỦ BẬN VIỆC TỪ

 

NGÀY 23.11.2015

 

XIN CÁM ƠN SỰ THEO DÕI CỦA QUÝ

 

ĐỘC GIẢ

                                            ge-tvl.com

 

 

 

 

 

 

      

 

 

                          

 

ĐIỂM BÁO  
 
 

 

 

 Sự Bất Tử Của Linh Hồn Được Các Nhà Khoa Học Chứng Minh Bằng Cơ Học Lượng Tử

 
 

Tác giả: Kỷ Tiểu Minh, Dajiyuan | Dịch giả: Việt Nguyên

 

1405250046592482

Gần đây, một luận thuật hoàn toàn mới dựa trên cơ học lượng tử đã chứng minh sự bất tử của linh hồn do nhà khoa học Mỹ – Giáo sư Robert Lanza đưa ra đã được các phương tiện truyền thông toàn cầu thông báo rộng rãi, và thu hút được nhiều sự quan tâm, đồng thời cũng gián tiếp chứng thực những nhận thức vốn có về sinh mệnh của giới tu luyện. (Fotolia)

[Đại Kỷ Nguyên ngày 26 tháng năm 2014] (Phóng viên Đại Kỷ Nguyên – Kỷ Tiểu Minh báo cáo tổng hợp) cái chết đối với mọi người có dư vị gì? Một lần là kết thúc hết chăng? Hay là sinh mệnh bắt đầu một cuộc hành trình mới? Mặc dù dân gian và giới tu luyện đều cho rằng linh hồn là bất diệt, con người có luân hồi chuyển thế, nhưng giới khoa học từ trước tới nay vẫn không thể tìm thấy bằng chứng để phủ nhận điều này. Gần đây, một luận thuật hoàn toàn mới dựa trên cơ học lượng tử đã chứng minh sự bất tử của linh hồn do nhà khoa học Mỹ – Giáo sư Robert Lanza đưa ra đã được các phương tiện truyền thông toàn cầu thông báo rộng rãi, và thu hút được nhiều sự quan tâm, đồng thời cũng gián tiếp chứng thực những nhận thức vốn có về sinh mệnh của giới tu luyện.

1405242224322504

Giáo sư Robert Lanza tại đại học y Wake Forest North Carolina từ quan điểm của cơ học lượng tử đã chứng minh “linh hồn là bất diệt” (Alex Wong / Getty Images)

Sự hiểu biết hoàn toàn mới của giới khoa học “linh hồn là bất diệt”

Giáo sư Robert Lanza tại đại học y Wake Forest North Carolina, thông qua nghiên cứu đã phát hiện, trong cơ học lượng tử có đủ bằng chứng cho thấy con người không hề biến mất, tử vong chỉ là ảo ảnh được tạo thành bởi ý thức của con người.

Lanza nói: “Khi tim người ngừng đập, máu ngừng chảy, khi các nguyên tố vật chất ở trong trạng thái ngừng lại, thì ý thức con người vẫn tiếp tục hoạt động, ngoài sự hoạt động của thân thể xác thịt này, còn có những “thông tin lượng tử” khác siêu việt trên cả thân thể xác thịt, hoặc có thể nói một cách thô tục là “linh hồn”.

Lanza cũng đưa ra những luận thuật về trung tâm sinh vật (biocentrism) mà đã ủng hộ các quan điểm của ông : sinh mệnh sáng tạo ra vũ trụ, có ý thức cá nhân rồi mới có sự tồn tại của vũ trụ, thực chất về sinh mệnh và các sinh vật là trung tâm thực sự của thế giới, sau đó mới có vũ trụ, vũ trụ bản thân nó không thể tạo ra sinh mệnh; ý thức sẽ làm cho thế giới biến đổi một cách có ý nghĩa, thời gian và không gian chỉ là công cụ của ý thức nhân loại. Cách nhìn về vũ trụ này là rất gần với nhận thức về vũ trụ của tôn giáo và giới tu luyện, mà trong đó ý thức của Sáng Thế Chủ đã tạo ra vũ trụ và sinh mệnh.

Phát hiện của Lanza khiến cho sự tranh luận trong thời gian dài giữa “duy vật luận” và “duy tâm luận” trở nên vô nghĩa, từ một phương diện khác nó đã chứng minh tính chính xác của pháp lý “vật chất và tinh thần là nhất tính” trong giới tu luyện.

Người có tín ngưỡng đều tin rằng linh hồn (nguyên thần) là bất diệt, tin tưởng vào luân hồi chuyển thế, và không ít người đã từng trải qua kinh nghiệm cận tử. Hai năm trước, nhà vật lý học nổi tiếng người Anh Roger Penrose, phó chủ nhiệm trung tâm nghiên cứu ý thức đại học Arizona của Mỹ – tiến sĩ Stuart Hameroff đã khẳng định tính xác thực của kinh nghiệm cận tử. Họ cho biết, khi người ta chết đi, các vật chất lượng tử cấu tạo nên linh hồn rời khỏi hệ thống thần kinh và sau đó tiến nhập vào vũ trụ, lúc ấy sẽ xuất hiện trải nghiệm cận tử. Khi các bệnh nhân xuất hiện kinh nghiệm cận tử, linh hồn rời khỏi cơ thể, trở lại vũ trụ, nếu bệnh nhân tỉnh lại, linh hồn sẽ lại một lần nữa quay trở về thân thể.

Tiến sĩ Hamer Rove tiến thêm một bước về nhận thức, linh hồn được cấu thành từ vật chất cơ bản nhất của vũ trụ, có thể là xuất hiện đồng thời với thời gian. Bộ não con người chỉ là bộ máy tiếp nhận và khuếch đại các ý thức nguyên lai (cấu trúc bên trong vốn có trong không gian). Nhận thức này của Hamer Rove cũng là tương đối gần với cách nói của giới tu luyện. Giới tu luyện cho rằng, bộ não chỉ là một nhà máy gia công, bản thân nó không thể tự tạo ra ý thức tư tưởng, chức năng chủ yếu của nó là tiếp nhận những tín tức từ vũ trụ và gia công thành ngôn ngữ, rồi biểu đạt ra ngoài.

Như thế rốt cuộc linh hồn tồn tại ở đâu? Giáo sư Lanza cho rằng, linh hồn không chỉ tồn tại trong vũ trụ của chúng ta, mà nó còn có thể tồn tại trong một vũ trụ khác. Năng lượng của ý thức linh hồn tại mỗi điểm có thể được chiêu hồi trở lại và đưa vào một thân thể khác. Cùng với sự việc này, nó tồn tại trong thế giới chân thực bên ngoài cơ thể vật lý, nhưng lại rất có thể sẽ là một vũ trụ khác. Cách nói này từ góc độ lập luận khoa học đã chứng minh tính chân thực của luân hồi chuyển thế.

1405242226392504

Nhà vật lý nổi tiếng người Anh Roger Penrose chỉ ra, khi người ta chết đi, các vật chất lượng tử cấu tạo nên linh hồn rời khỏi hệ thống thần kinh và sau đó tiến nhập vào vũ trụ, lúc ấy sẽ xuất hiện trải nghiệm cận tử.  (Ảnh cắt ra từ clip)

1405242226142504

Phó chủ nhiệm trung tâm nghiên cứu ý thức đại học Arizona của Mỹ – tiến sĩ Stuart Hameroff cho rằng, linh hồn được cấu thành từ vật chất cơ bản nhất của vũ trụ, có thể là xuất hiện đồng thời với thời gian. Mà não người chỉ là bộ máy tiếp nhận và khuếch đại các ý thức nguyên lai (Ảnh cắt ra từ clip)

Giới tu luyện từ lâu đã có luận định “Nguyên thần bất diệt”

Cái mà người phương Tây gọi là linh hồn, trong giới tu luyện ở phương Đông gọi là “nguyên thần”. Trong giới tu luyện, bất luận là Phật gia hay Đạo gia, đều nhận thức rằng nguyên thần là bất diệt. Một sinh mệnh chết đi, chỉ là sự tử vong của xác thịt bề mặt, linh hồn của nó sẽ lại tiếp tục chuyển sinh, tiến nhập vào sinh mệnh của một cuộc hành trình khác. Và không chỉ con người có nguyên thần, mà vạn vật đều có linh (nguyên thần). Điểm này cũng đã sớm được chứng thực bởi những phát hiện khoa học.

Ngay từ năm 1966, tại cục tình báo trung ương Mỹ, chuyên gia Cleve Backster đã sử dụng máy phát hiện nói dối để tiến hành một loạt các thí nghiệm khoa học trên thực vật, và đã xác nhận rằng thực vật không những có ý thức, mà còn có hoạt động tình cảm cao cấp, có thể phân biệt được người, ngoài ra còn có công năng siêu cảm. Thí nghiệm của Backster làm chấn động toàn thế giới, rất nhiều các quốc gia trên thế giới đã lặp đi lặp lại các thí nghiệm của Backster để xác nhận tính chân thực trong các thí nghiệm của ông.

Sự khác nhau lớn nhất trong các thảo luận về sinh mệnh của giới tu luyện và các nhà khoa học chính là ở chỗ: giới tu luyện là nhìn vũ trụ từ vi quan cho tới hoành quan, xem xét nó trên cả một diện, chứ không phải chỉ một điểm. Còn các phương pháp lý luận khoa học thì bắt đầu từ một điểm (ví dụ: phân tử), rồi tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu (phân tử, nguyên tử, hạt nhân nguyên tử, proton, ….).

Vì thế, giới tu luyện cho rằng, cả một tầng các phân tử chính là một không gian, các nguyên tử tổ hợp thành phân tử lại là một không gian còn lớn hơn, vi quan hơn. Vì vậy, khi một sinh mệnh chết đi, chỉ là cấu trúc phân tử bề mặt này của cơ thể bị giải thể, tầng vi quan hơn của cơ thể (do các nguyên tử cấu thành) trong không gian nguyên tử thì vẫn còn tồn tại.

Còn về nguyên thần (linh hồn), giới tu luyện cho rằng nó mới chính là sinh mệnh chân chính vĩnh hằng, thân thể người hoặc động vật hay thực vật chỉ đóng vai trò tải thể của nguyên thần (linh hồn), là nơi để hoàn thành các quá trình sống của sinh mệnh. Đây là những gì mà mọi người thường gọi là luân hồi chuyển thế. Giới tu luyện cho rằng, một nguyên thần (linh hồn) phải xuống địa ngục chịu tội trả nợ, hay là chuyển sinh thành động vật hoặc thực vật, đều là do các sinh mệnh cao cấp hơn dựa trên những biểu hiện thiện và ác trong các kiếp sống trước của sinh mệnh ấy mà quyết định.

Về vấn đề này, ông Gia Cát Minh Dương, một nhà văn độc lập cho biết: “‘linh hồn bất diệt” là một chủ đề rất lớn, nó liên quan đến sinh mệnh, vũ trụ và luân lý đạo đức v.v… nó vượt qua lĩnh vực nhận thức của nền khoa học nhân loại. Mặc dù các luận chứng chứng minh “‘linh hồn bất diệt” của Robert Lanza và các nhà khoa học khác không chắc đã hoàn toàn chính xác, nhưng lại có một ý nghĩa rất đặc biệt, nó đã phá vỡ những điều cấm kỵ của khoa học, khiến mọi người phải suy nghĩ lại về cội nguồn của ý thức tư tưởng, nguồn gốc và ý nghĩa thực sự của sinh mệnh, mối quan hệ giữa con người và vũ trụ, và những hậu quả của hành thiện và làm ác .v.v… “

(Chịu trách nhiệm biên tập: Lý Hiểu Thanh)

 

Các nhà thiên văn học: Tồn tại những nền văn minh tiên tiến bên ngoài Trái Đất

 

 
A bright star-forming ring that surrounds the heart of barred spiral galaxy NGC 1097 in this file photo. (NASA)

Ảnh một vành đai sáng rực (nơi các ngôi sao đang hình thành) đang bao quanh trung tâm của thiên hà xoắn ốc NGC 1097. (Nguồn: NASA)

Hai nhà thiên văn học Adam Frank và Woodruff Sullivan, thuộc trường Đại học Rochester và Đại học Washington, đã công bố một báo cáo nghiên cứu trên số báo ra tháng Năm của tạp chí Sinh vật học Vũ trụ (Astrobiology), khảo sát điều mà họ gọi là “nghi vấn về khảo cổ vũ trụ”: “Trong lịch sử tiến hóa vũ trụ, sự sản sinh ra các chủng loài có văn minh công nghệ (bất kể tồn tại trong thời gian dài hay ngắn) tuân theo một chu kỳ như thế nào?”

Trong chuyên mục ý kiến phản hồi của tờ New York Times, phát hành ngày 10 tháng Sáu, Adam Frank đã tóm tắt kết luận của nghiên cứu như sau : “Mặc dù chúng tôi không biết liệu có nền văn minh ngoài Trái đất nào hiện đang tồn tại hay không, nhưng chúng tôi có đủ thông tin để kết luận rằng chúng gần như chắc chắn đã từng tồn tại ở một thời điểm nào đó trong lịch sử vũ trụ”.

Chúng tôi có đủ thông tin để kết luận rằng chúng gần như chắc chắn tồn tại ở một thời điểm nào đó trong lịch sử vũ trụ.

Adam Frank, nhà thiên văn hc thuc Đi hc Rochester

Hai nhà thiên văn học đã đi đến kết luận trên nhờ xử lý lại phương trình Drake nổi tiếng theo một góc nhìn khác và đồng thời bổ sung thêm các thông tin mới nhất. Phương trình này ban đầu được nhà thiên văn Frank Drake xây dựng vào năm 1961 để tính toán khả năng liên hệ được với sự sống ngoài Trái đất.

Drake theo học ngành thiên văn vô tuyến tại Đại học Harvard và giữ nhiều vị trí công tác trong lĩnh vực này, gồm cả công việc tại Phòng thí nghiệm Sức đẩy Phản lực của NASA. Ông đưa vào phương trình của mình nhiều thừa số khác nhau, như tốc độ hình thành các vì sao phù hợp với sự hình thành các sinh vật có trí tuệ và số lượng hành tinh có môi trường thích hợp cho sự sống trong mỗi một hệ hành tinh.

Phương trình Drake:

      N  = Số các nền văn minh trong hệ Ngân Hà mà có thể phát ra các sóng điện từ phát                        hiện được.

      R= Tốc độ hình thành các vì sao có môi trường phù hợp cho sự hình thành các sinh vật                  có trí tuệ.

       fp = Phần trăm những vì sao có các hệ thống hành tinh xoay quanh.

       ne= Số các hành tinh có môi trường phù hợp cho sự sống trong mỗi hệ hành tinh.

       fl  = Phần trăm các hành tinh trong nmà sự sống có thể thực sự xuất hiện ở đó.

       fi  = Phần trăm các hành tinh trong fl có sự sống mà ở đó các sinh vật có trí tuệ có thể   Xuất hiện.

        fc= Phần trăm các nền văn minh có thể sở hữu công nghệ phát ra các tín hiệu (có thể  dò tìm) vào trong không gian.

        L = Khoảng thời gian mà những hành tinh như vậy có thể phát vào trong không gian  các tín hiệu có thể dò tìm.

Những cải tiến trong công nghệ quan sát thiên văn đã đẩy vọt kiến thức của chúng ta về các hành tinh ngoài hệ mặt trời. Vào tháng 4 năm nay, nhóm làm việc trên tàu không gian Kepler thông báo đã phát hiện thấy 1.284 hành tinh nằm ngoài hệ mặt trời.

Frank viết trên New York Times rằng: “Đến nay, ba trong bảy thừa số của phương trình Drake đã được tìm ra, đó là R*, fp (khoảng 100%), ne (20-25%). Điều này cho phép chúng ta lần đầu tiên có thể nói điều gì đó rõ ràng về những nền văn minh ngoài trái đất”.

Thay vì xét tới xác suất có một nền văn minh đang hiện hữu ngoài Trái đất, Frank và Sullivan đã dựa trên xác suất chúng từng xuất hiện trong quá khứ, qua đó bỏ qua được những ràng buộc về nhân tố thời gian trong các thừa số của phương trình Drake.

“Việc đó giúp chúng tôi giảm số thừa số chưa xác định trong phương trình Drake xuống còn 3, mà chúng tôi kết hợp lại thành xác suất “công nghệ sinh học” gồm: khả năng tạo ra sự sống, sinh vật thông minh, và năng lực công nghệ”, Frank viết. Ông kết luận: “Xác suất chúng ta không phải là nền văn minh công nghệ đầu tiên là rất cao. Đặc biệt, chỉ trừ khi xác suất mà một nền văn minh (trên các hành tinh thuộc vùng có thể sinh sống) có sự tiến hóa là dưới một phần 10 nghìn tỷ tỷ, chúng ta mới là nền văn minh đầu tiên”.

Năm 2013, hai nhà toán học của Đại học Edinburgh là Arwen Nicholson và Duncan Forgana đã đưa ra một tuyên bố tương tự về khả năng các nền văn hóa ngoài hành tinh đã và đang gửi các tàu thăm dò Trái đất.

Hai ông quan tâm đến những yếu tố như việc các tàu do thám có thể di chuyển bằng cách tận dụng năng lượng từ chuyển động của các vì sao và công nghệ tự tái tạo có thể ảnh hưởng như thế nào đến các giai đoạn thám hiểm.

Trong phần tóm tắt nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Sinh vật học Quốc tế, họ trình bày rằng: “Chúng tôi kết luận rằng một hạm đội tàu có khả năng tự tái tạo thực sự có thể thám hiểm hệ Ngân Hà trong một khoảng thời gian đủ ngắn để đảm bảo cho nghịch lý Fermi tiếp tục tồn tại”.

Nghịch lý Fermi được đặt tên theo tên nhà vật lý Enrico Fermi và nó nói đến xác xuất lớn có tồn tại các nền văn minh ngoài Trái đất, mặc dù thiếu hụt bằng chứng về sự tồn tại của chúng. Do đó khi Nicholson và Forgana nói những tính toán của họ “đảm bảo cho nghịch lý Fermi tiếp tục tồn tại”, có nghĩa là họ chứng thực được khả năng rất cao có tồn tại nền văn minh ngoài Trái đất.

 

Họ lấy cảm hứng từ cuộc du hành của tàu thăm dò Voyager 1 thuộc NASA, vốn được đặc định sẵn là sẽ gặp ngôi sao tên AC+79 3888 vào 40 nghìn năm tới. Họ tự hỏi liệu một nền văn minh ngoài Trái đất có gửi đến chúng ta một tàu thăm dò bằng phương pháp tương tự của NASA từ 40 nghìn năm trước, và đã được đặc định đến chỗ chúng ta trong một ngày nào đó của thời điểm hiện tại không.

Có phải thời gian chỉ là một ảo giác?

 

 
Could our past, present, and future exist together? (Photos.com)

Liệu quá khứ, hiện tại, và tương lai của chúng ta có thể đồng thời tồn tại hay không? (Photos.com)

“Thời gian là một hình ảnh chuyển động của sự vĩnh cửu”—triết gia Plato.

Chúng ta có xu hướng tin rằng vận mệnh có thể thay đổi và tất cả thời gian một khi đã đi qua đều sẽ trôi vào quên lãng, nhưng liệu sự vận động, sự thay đổi có thể chỉ đơn thuần là một ảo giác không? Một nhà vật lý nổi tiếng người Anh đã giải thích rằng trong một chiều không gian đặc thù, thời gian đơn giản là không tồn tại.

“Nếu bạn cố gắng dùng tay để đỡ lấy thời gian, nó sẽ luôn luôn trôi qua các ngón tay của bạn”, nhà vật lý người Anh Julian Barbour nói trong một cuộc phỏng vấn với Quỹ Edge Foundation. Trong khi câu nói này vẫn còn vang vọng trong phòng phỏng vấn, Barbour và người phóng viên có thể đã không còn bất kỳ mối liên quan nào với chính bản thân họ của một giây trước đó. Barbour cũng là tác giả cuốn “Tận cùng của thời gian: Cuộc cách mạng tiếp theo trong Vật lý học”.

Barbour tin rằng con người không thể nắm giữ được thời gian bởi vì nó không tồn tại. Mặc dù đây không phải là một lý thuyết mới, nhưng nó chưa từng được biết rộng rãi như thuyết tương đối của Einstein hay lý thuyết dây.

Quan niệm về vũ trụ không có thời gian không chỉ vô cùng hấp dẫn đối với một nhóm các nhà khoa học, mà nó còn có thể giúp giải đáp nhiều nghịch lý mà vật lý học hiện đại phải đối mặt trong khi giải thích về vũ trụ.

Chúng ta có xu hướng suy nghĩ và nhận thức rằng thời gian có bản chất tuyến tính, tiến trình của nó chắc chắn là đi từ quá khứ tới tương lai. Đây không chỉ là một nhận thức cá nhân của toàn nhân loại, mà còn là bối cảnh mà ở đó ngành cơ học kinh điển phân tích tất cả các hàm toán học trong phạm vi vũ trụ. Nếu không có nhận thức như thế, những ý tưởng như là quy luật nhân quả và việc chúng ta không thể tồn tại đồng thời ở hai sự kiện, sẽ được xem xét từ một cấp độ hoàn toàn khác.

Ý tưởng về thời gian không liên tục của Barbour đã cố gắng giải thích trong phạm vi lý thuyết rằng một vũ trụ được tạo ra bởi nhiều điểm mà ông gọi chung là “hiện tại”. Nhưng “những hiện tại” đó sẽ không được hiểu như là những thời điểm thoáng qua, đến sau “quá khứ” và sẽ mất trong “tương lai”; một “hiện tại” chỉ là một trong hàng triệu “hiện tại” đang tồn tại trong khảm đồ vô tận của vũ trụ trong một chiều không gian đặc thù không thể xác định, mỗi “hiện tại” lại có liên quan với những “hiện tại” khác theo một cách tinh vi, nhưng không có cái nào nổi bật hơn những cái xung quanh. Chúng đều tồn tại cùng một thời điểm.

Ý tưởng vừa phức tạp vừa đơn giản này của Barbour hứa hẹn sẽ thay đổi những người chấp nhận lý thuyết cho rằng thời gian chỉ tồn tại từ sau vụ nổ Big Bang.

Ông Barbour nghĩ rằng khái niệm thời gian có thể tương tự như khái niệm số nguyên. Tất cả các con số kiểu số nguyên đều tồn tại đồng thời, và không thể cho rằng số 1 tồn tại trước số 20.

Ngay lúc này, chắc chắn sẽ có độc giả có thể hỏi: “Có phải ông đang cố thuyết phục tôi rằng động tác mà tôi đang làm hiện giờ với cánh tay của mình là không tồn tại? Nếu những phần “hiện tại” vô cùng nhỏ không có kết nối với nhau, thì bằng cách nào mà tôi nhớ được những ý tưởng đầu tiên trong bài báo này? Làm sao mà tôi nhớ được đồ ăn trưa của mình là gì? Tại sao tôi phải thức dậy và đi làm nếu công việc thuộc về một “tôi” khác không có can hệ gì tới tôi? Nếu tương lai đã có sẵn ở đó rồi, thì tại sao phải phấn đấu?”

Những câu hỏi như vậy bắt nguồn từ nhận thức bị đánh lừa khi cho rằng thời gian là đang trôi đi, từ quá khứ tới tương lai như nước chảy trên một dòng sông. Chúng ta có thể xem vũ trụ không có thời gian như là một cái bánh kem vani dài, ở trong lấp đầy sô-cô-la. Nếu cắt một lát bánh, chúng ta sẽ có được cái mà chúng ta gọi là một “hiện tại”.

Giả sử rằng phần nhân sôcôla ở giữa tượng trưng cho chúng ta, thì chúng ta sẽ tin rằng lát bánh của chúng ta là lát bánh duy nhất tồn tại trong vũ trụ, và rằng những lát bánh đằng trước và đằng sau tồn tại chỉ như những khái niệm. Ý tưởng này nghe có vẻ buồn cười đối với người quan sát cái bánh, khi họ biết rằng tất cả các lát bánh đều đồng thời tồn tại.

Lấy một ví dụ, bạn có thể nói rằng “tôi” không phải là cùng một người với “tôi” mà đã bắt đầu viết câu văn này. Tôi là độc nhất, có thể là độc nhất trong liên hệ rõ ràng với mỗi cái “tôi” đã viết những từ ngữ trước đó trong đoạn văn này. Thế nhưng, thậm chí vô hạn những cái “hiện tại” độc lập với nhau ấy cũng sẽ không bị phân tán. Chúng vẫn là một cấu trúc. Chúng là một khối, một cái bánh hoàn chỉnh không có mảnh vụn nào rời ra.

Và Barbour đưa ra giả thuyết rằng: Trong một không gian vũ trụ, tương lai (tương lai của chúng ta) đã có ở đó, đã được sắp đặt, và mỗi giây trong quá khứ của chúng ta cũng đang hiện hữu, không phải là ký ức mà là một sự hiện hữu sống động. Điều đau đớn nhất đối với nhân loại, như các triết gia phương Đông đã nhận định, là cố gắng phá vỡ cái khuôn cố định này.

Một người khôn ngoan, đi theo tiến trình đã được định trước, sẽ là một khuôn mặt vui vẻ ở giữa cái bánh sô-cô-la vũ trụ và cố gắng sống với cái “hiện tại” độc nhất và cực kỳ bé nhỏ của chúng ta.

Hầu hết chúng ta đều tin rằng ở một mức độ vô thức, một chiếc đồng hồ vũ trụ vĩ đại đang quay tích tắc mỗi giây của không gian khổng lồ được gọi là vũ trụ này. Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ trước, Albert Einstein đã giải thích rằng thực tại thời gian có liên quan tới mỗi vật thể trong vũ trụ, và rằng thời gian là một “chủ thể” không tách biệt với không gian. Ngay cả các chuyên gia đồng bộ thời gian trên thế giới cũng biết rằng thế giới này được vận hành bởi một tích tắc được quy định ngẫu nhiên, do đồng hồ hoàn toàn không có khả năng đo được thời gian.

Rõ ràng, lựa chọn duy nhất là hãy chìm vào một “ảo giác tạm thời” của sự vô tận này, biết rằng có một không gian mà ở đó quá khứ của chúng ta vẫn tồn tại và những gì chúng ta làm sẽ không hề thay đổi. Hoặc như chính Einstein nói: “Những người như chúng ta, những kẻ tin vào vật lý học, biết rằng sự phân biệt giữa quá khứ, hiện tại, và tương lai chỉ là một ảo tưởng cố chấp dai dẳng”.

The Epoch Times được xut bn trên 35 Quc gia và 21 ngôn ng.

Tìm chúng tôi trên Facebook: https://www.facebook.com/VietDaiKyNguyen/

 
 
 

 

 
 
 
HOTLINE  
 
0985.865.772
 
BÀI MỚI  
 
» THÔNG TIN BÀI CẬP NHẬT
 
THỐNG KÊ TRUY CẬP  
 
  Đang online : 41
  Lượt truy cập : 1702671
 
 
 

 
 
 

 

Bản quyền thuộc về Bác Sĩ Đỗ Ngọc Thanh - ĐTDĐ: 0985.865.772
 

 

 

Website:      http://www.ge-tvl.com
  
Email :   getvl49@yahoo.com.vn

   
Ghi rõ nguồn "Dr Dongocthanh's website" Khi phát hành
 
lại các thông tin từ website này. Các trang liên kết sẽ được
 
hiện rõ ở của sổ mới của ge-tvl.com.
 
     BS ĐỖ NGỌC THANH không chịu trách nhiệm về
 
những liên kết ngoài đối với trang mạng ge-tvl.com
 

Design by pmvietnam